Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"
Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:
- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.
- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.
- Gợi lên tình cảm thầy trò.
Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.
Câu 2.
Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).
Câu 3.
Hai từ láy trong văn bản:
- xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
- chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.
Câu 4.
Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:
- Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
- Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).
Câu 5.
Bài học rút ra:
Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.
Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại
Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông
Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"
-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu
- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu
Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người (được nhân các hóa)
Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách
Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
- Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
- Thân bài:
- Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
- Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
- Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
- Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
- Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
- Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.
Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
- Thân bài:
- Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
- Diễn biến:
- Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
- Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
- Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
- Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
- Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
- Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
- Kết bài:
- Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
- Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
Bài làm
Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau
Câu 1 ngôi kể thứ ba. câu 2 vì họ nhớ đến ơn Đức của bà đã tạo Lập vườn tược nơi đất cũ ,bày dân làng cách chữa bệnh làm ruộng và nuôi dạy con cái. Câu 3 từ láy là nhẹ nhàng giải thích nghĩa là có tính chất nhẹ không gây cảm giác gì ,từ láy là lam lũ có nghĩa vất vả khổ cực trong cảnh thiếu thốn. Câu 5 con người cần biết hiếu thảo kính trọng biết ơn cha mẹ kể cả cha mẹ nuôi phải luôn gắn bó với cội nguồn nhớ về quê hương không quên nơi đã sinh ra nuôi dưỡng mình biết yêu thương giúp đỡ nhân dân đêm kiến thức kinh nghiệm để làm lợi cho cộng đồng.
Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, không có câu chuyện nào lại gắn bó sâu sắc với Thủ đô Hà Nội và tinh thần yêu nước hơn Truyền thuyết Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm). Truyền thuyết này không chỉ giải thích nguồn gốc của một di tích lịch sử mà còn tôn vinh chiến thắng vĩ đại và phẩm chất cao đẹp của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi.
Câu chuyện bắt đầu vào thời kỳ đất nước chìm trong ách đô hộ của giặc Minh. Khi đó, thủ lĩnh Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đang gặp vô vàn khó khăn, thiếu vũ khí và lương thực. Long Quân (Vua Rồng), cảm thương trước cảnh lầm than và thấy được ý chí quật cường của Lê Lợi, đã quyết định trao tặng một thanh gươm thần để giúp ông đánh đuổi quân xâm lược.
Thanh gươm thần này không được trao trực tiếp. Thay vào đó, một lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy trong lưới của ngư dân Lê Thận. Sau đó, một chuôi gươm nạm ngọc lại được chính Lê Lợi tìm thấy dưới gốc cây đa. Khi tra vào, lưỡi gươm và chuôi gươm khớp nhau một cách kỳ diệu, tạo thành thanh gươm báu mang tên ''Thuận Thiên''. Từ khi có gươm thần, nghĩa quân Lam Sơn như được tiếp thêm sức mạnh, liên tục giành thắng lợi và cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.
Sau khi đất nước thái bình, Lê Lợi lên ngôi vua (Lê Thái Tổ). Một hôm, nhà vua đang đi thuyền dạo chơi trên chiếc hồ lớn ở kinh thành. Bỗng nhiên, một con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước, tiến về phía thuyền Rồng. Rùa Vàng cất tiếng nói rõ ràng: "Xin bệ hạ hoàn trả gươm thần cho Long Quân!".
Nhà vua hiểu rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành, chiến tranh đã kết thúc, và lòng nhân ái mới là thứ cần thiết để xây dựng đất nước. Vua Lê Lợi liền rút gươm trao trả cho Rùa Vàng. Rùa Vàng ngậm thanh gươm báu rồi lặn xuống đáy hồ và biến mất. Kể từ đó, chiếc hồ được đặt tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm), còn được gọi là Hồ Gươm.
Truyền thuyết Hồ Gươm là một câu chuyện đẹp không chỉ về lòng dũng cảm chiến đấu mà còn về tinh thần hòa bình. Nó khẳng định rằng, vũ khí thần thánh chỉ cần thiết khi đất nước bị xâm lăng. Khi độc lập đã được thiết lập, thanh gươm phải được trao trả, biểu tượng cho việc dân tộc ta gác lại chiến tranh, tập trung vào xây dựng cuộc sống thái bình. Hồ Gươm và tháp Rùa vẫn đứng đó giữa lòng Hà Nội, như một lời nhắc nhở vĩnh cửu về truyền thống yêu nước, giữ gìn hòa bình và sự kết nối thiêng liêng giữa con người với đất trời.
Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện đặc sắc. Truyện dân gian đã làm giàu trí tưởng tượng của chúng ta và là kho báu tình thần vô giá mà cha ông ta để lại. Trong đó , có những câu chuyện truyện truyền vừa mang những chi tiết kì ảo, hoang đường vừ gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Một trong số đó, em ấn tượng nhất với câu chuyện Thánh Gióng. Thuở xưa, vào đời Hùng Vương thứ VI, ở làng Gióng có hai vợ chồng già nổi tiếng là chăm chỉ làm ăn và có phúc đức. Nhưng hai vợ chồng lại muộn con. Một ngày nọ, bà lão đi làm đồng thì thấy một vết chân khổng lồ. Bà liền ướm thử xem hơn kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai. Mười hai tháng sau bà sinh ra một cậu bé, mặt mũi khôi ngô, sáng sủa. Nhưng điều kì lạ là đến khi lên ba tuổi, cậu bé vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, đặt đâu thì nằm đấy. Bấy giờ, giặc Ân muốn xâm chiếm bờ cõi nước ta. Thấy giặc mạnh, vua Hùng lo sợ nên hạ lệnh đi tìm người tài giỏi cứu nước. Gióng nghe thấy tiếng sứ giả rao bèn cất tiếng nói đầu tiên: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây." Khi sứ giả bước vào, cậu bé nói:"Ông về hãy tâu với vua rằng làm cho ta một bộ áo giáp sắt, một chiếc roi sắt và một con ngựa sắt. Ta sẽ đánh tan lũ giặc này." Sứ giả vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ vội chạy về tâu với vua. Vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật mà chú bé dặn. Sau hôm gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc mà đã đứt chỉ. Cha mẹ làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con đành phải chạy nhờ bà con, làng xóm. Ai cũng vui lòng gom góp gạo nuôi cậu bé vì ai cũng đều muốn cậu bé đánh đuổi lũ giặc này để cho mọi người được sống trong sự bình yên, hạnh phúc. Bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu, sứ giả vội vàng đem những vật mà chú bé đã dặn đến. Gióng vươn vai một cái đã biến thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Chàng khoác trên mình bộ áo giáp sắt, tay cầm rồi sắt nhảy lên lưng ngựa. Ngựa hí vang dội mấy tiếng rồi chạy đến nơi có giặc, đón đầu chúng. Gióng đánh hết lớp giặc này đến lớp giặc khác. Giặc chết như ngả rạ. Đang đánh thì rồi sắt gãy, Gióng nhanh trí nhổ những bụi tre ở bên đường quật vào giặc. Đám tàn quân còn xót lại chạy đè lên nhau. Gióng đuổi bọn chúng đến chân núi Sóc. Đến đó, Gióng cởi bộ giáp sắt, rồi một mình một ngựa từ từ bay lên trời. Vua nhớ công ơn nên phong là Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng và lập đền thờ ngay tại quê nhà. Truyện truyền thuyết Tháng Gióng không chỉ là một câu chuyện bình thường mà là một bản hùng ca về sự dũng cảm, lòng nhân hậu và tình yêu nước tha thiết. Quả thật, truyện truyền thuyết không chỉ làm giàu trí tưởng tượng mà còn gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Trong thời đại hôm này, tinh thần Thánh Gióng vẫn vẹn nguyên giá trị. Nó nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta phải học tập rèn luyện để bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.
Câu 1:
Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ ba
Câu 2:
Aưm sống trong hoàn cảnh nghèo khó, mồ côi cha, mẹ thì đau ốm liên miên, bản làng lại bị hạn hán, đói khát
Câu 3:
- từ láy: thiêm thiếp
- đặt câu: Bé ngủ thiêm thiếp trong vòng tay mẹ.
Câu 4: chi tiết đó chứng minh Aưm là một cậu bé hiếu thảo, chăm chỉ, yêu thương và hết lòng lo lắng cho mẹ
Câu 5:
Bài học em rút ra từ câu chuyện:cần biết yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ, sống biết sẻ chia, giúp đỡ người khác, đồng thời phải chăm chỉ, kiên trì và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống
Thấy hay thì cho mình 1 tick nhé
1) “Sơn tắc kỳ cao thả hựu đại”
Câu này mở ra tầm vóc của núi non: cao nhưng không chỉ cao, còn đại – rộng lớn, kỳ vĩ.
➡ Ý nghĩa: Núi như biểu tượng của khí phách, của sự trầm hùng, của cái nền tảng bền vững của đất nước.
2) “Thiên diệc cao, kỳ viễn hựu khoát”
Câu thứ hai đối rất chỉnh với câu đầu:
Ở đây, trời cũng được miêu tả có chiều cao, nhưng thêm tính viễn (xa) và khoát (rộng mở).
Nếu núi là cái “cao – lớn”, thì trời lại là cái “cao – xa – rộng”.
➡ Tầm nhìn mở lên vũ trụ, từ hữu hình (núi) đến vô biên (trời).
➡ Bài thơ bắt đầu mang chiều triết lý: thiên nhiên là biểu tượng của sự rộng lượng và cái mênh mông vượt ngoài sức người.
3) “Hà lưu trường, trường chí vô biên”
Hình ảnh dòng sông chảy dài – rồi lại “trường chí vô biên” càng khiến động tác “lưu trường” trở nên thăm thẳm.
Lặp “trường” tạo nên nhịp ngân, kéo dài không dứt, giống chính dòng nước.
➡ Ý nghĩa:
Đây là câu chuyển từ tĩnh sang động, làm bức tranh thiên nhiên trở nên sống động hơn.
4) “Bích hải thâm u bất kiến đáy”
“Biển xanh” nhưng là “thâm u”: đẹp mà bí ẩn, hiền hòa mà sâu thẳm.
“Bất kiến đáy” kết lại tứ thơ bằng chiều sâu triết lý: có những giá trị, những bí mật của thiên nhiên và lòng người… vốn không thể nhìn thấu hết.
➡ Câu kết tạo chiều sâu: thiên nhiên mênh mông không chỉ lớn về không gian mà còn sâu về nội hàm tư tưởng.
🌅 II. Ý nghĩa tổng thể của bài thơ
Bài thơ khắc họa một vòng không gian vĩ mô:
Núi → Trời → Sông → Biển
Từ cao → xa → dài → sâu.
Đây là cấu trúc rất khéo, tăng tiến logic:
Tất cả hòa lại như một bản hợp xướng về thiên nhiên Việt Nam – rộng, lớn, khoáng đạt, giàu tính triết lý.
Nhà thơ không chỉ tả cảnh mà mượn cảnh để nói về:
🎨 III. Đánh giá nghệ thuật
✔ 1. Dùng Hán–Việt trang nhã, đúng phong vị Đường thi
Các cặp từ “kỳ – đại”, “kỳ – khoát”, “vô biên”, “thâm u” đều mang giọng điệu cổ phong, vừa trang trọng vừa gợi tả.
✔ 2. Cách đối rất chỉnh (đặc biệt câu 1–2)
Nội dung đối, từ loại đối, ý đối → tạo độ cân xứng và nhạc tính cổ điển.
✔ 3. Hình ảnh lớn, không sa vào liệt kê mà có mức độ tăng tiến
Từ “cao → xa → dài → sâu” là một điểm sáng của bài thơ.
✔ 4. Câu kết đậm tính triết lý
Dư âm của bài thơ không phải ở vẻ đẹp thiên nhiên mà ở chiều sâu tư tưởng con người.
🔍 IV. Nhận xét chung
👉 Điểm nổi bật nhất: Tư tưởng tăng tiến: cao → khoát → vô biên → vô đáy.
👉 Điểm có thể cải thiện: Nếu bạn muốn mang “cái tôi” vào thơ, có thể thử thêm một chữ hoặc một hình ảnh mang tính cảm xúc chủ thể – nhưng nếu bạn muốn giữ chất “cổ phong khách quan”, hiện tại đã rất tốt.
Bài thơ của bạn có ý tứ tốt, bố cục hợp lý, mang phong cách hùng tráng – cổ điển – mạnh mẽ, bật lên vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước. Chỉ cần điều chỉnh nhỏ về nhạc tính hoặc ngôn từ là có thể hoàn thiện thêm nữa.
Tên bài thơ là "Sơn Hà Hùng Mỹ" là nói về vẻ đẹp hùng vĩ của giang sơn.
"Sơn tắc kỳ cao thả hựu đại" nghĩa là "Núi thì vừa cao lại vừa lớn", " Thiên diệc cao, kỳ viễn hựu khoát" nghĩa là "Trời cũng cao, vừa xa lại vừa rộng", " Hà lưu trường, trường trường chí vô biên" nghĩa là "Sông chảy dài, dài đến vô biên" còn " Bích hải thâm u bất kiến đáy" nghĩa là "Biển xanh sâu thẳm không thấy đáy"
Vậy nghĩa của bài thơ là:
Núi thì vừa cao lại vừa lớn
Trời cũng cao, lại vừa xa vừa rộng
Sông chảy dài, dài đến tận vô biên
Biển xanh sâu thẳm ko thấy đáy.
Hoặc là
Núi thì vừa cao lại vừa lớn
Trời cũng cao, vừa xa vừa rộng
Sông chảy dài, dài đến vô biên
Biển xanh sâu thẳm không thấy đáy.
Mình đánh giá đây là một bài Tứ Tuyệt Cổ Phonh rất hay nói về cảnh đẹp của giang sơn.
Các câu có liên kết với nhau đầu tiên tả cảnh cao núi với trời cao giống nhau nói về sự to lớn và hùng vĩ giống nhau còn tiếp theo là tả cảnh thấp sông và biển, tuy sông đc tả là dài, biển thì là sâu nhưng đều vô biên giống nhau.
Bài thơ của bạn rất hay.
bái phục bạn khi làm dc bài thơ hay như này,lớp mik ko ai bt làm thơ cả=))
Ko
SÁNG TẠO ĐẤY
Thơ hay
bn sáng tác hay quá
Hay đấy bro
Hình như bạn sửa "đáy" thành "để"
đúng là rất hay
Ý nghĩa
Bài thơ mô tả một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ qua bốn câu thơ ngắn gọn mà đầy ấn tượng. Các hình ảnh như "Sơn tắc kỳ cao thả hựu đại" (núi cao mà vẫn bao la, rộng lớn) hay "Thiên diệc cao, kỳ viễn hựu khoát" (trời cũng cao, rộng lớn vô cùng) gợi lên cảm giác về sự bất tận của thiên nhiên, không có điểm cuối, không có giới hạn. Câu "Hà lưu trường, trường chí vô biên" (dòng sông dài, dài mãi, không thấy bờ) cũng mang ý nghĩa về dòng chảy vô tận của thời gian, của lịch sử. Cuối cùng, "Bích hải thâm u bất kiến để" (biển xanh sâu thẳm không thấy bờ) như một hình ảnh về sự huyền bí, không thể đoán trước của vũ trụ, cũng có thể là một ẩn dụ cho những thử thách, khó khăn mà con người phải đối mặt trong cuộc sống.
Những hình ảnh này không chỉ là sự miêu tả về cảnh vật thiên nhiên, mà còn có thể hiểu là biểu tượng cho sức mạnh, sự kiên cường, bền bỉ của dân tộc Việt Nam. Qua đó, tác giả muốn nhấn mạnh sự vĩ đại của tổ quốc, của con người, dù phải đối diện với bao gian khó, vẫn không bao giờ khuất phục.
Đánh giá
Bài thơ mang đậm ảnh hưởng của thể thơ cổ điển Hán Việt, với lối viết cô đọng, tinh tế. Việc sử dụng hình ảnh thiên nhiên không chỉ để miêu tả mà còn để bộc lộ những suy tư sâu sắc về vũ trụ, về cuộc sống và dân tộc. Đây là một nét đặc trưng của thể thơ cổ điển, khi mỗi câu thơ đều ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa, cần người đọc suy ngẫm.
Mặc dù cấu trúc bài thơ rất chặt chẽ, nhưng nếu muốn nâng cao thêm tính mạch lạc và sự dễ hiểu, có thể cân nhắc điều chỉnh một số từ ngữ hoặc cách thức diễn đạt sao cho phù hợp hơn với cách đọc hiện đại. Câu chữ tuy gọn gàng nhưng đôi khi có thể khiến người đọc mới cảm thấy hơi khó hiểu nếu không quen thuộc với ngữ pháp và hình thức cổ điển.
Nhận xét
Bài thơ thể hiện tài năng và sự sáng tạo của tác giả trong việc kết hợp giữa thể thơ cổ điển và những hình ảnh thiên nhiên sống động. Tuy vậy, để bài thơ dễ tiếp cận hơn với đại đa số người đọc, có thể cân nhắc làm rõ hơn một chút về ý tưởng trong mỗi câu thơ. Tuy nhiên, nhìn chung, đây là một bài thơ rất hay, mang đậm dấu ấn cá nhân, thể hiện được sự tôn vinh vẻ đẹp của thiên nhiên và lòng tự hào dân tộc.
Gửi ạ
Mình sửa đáy thành để nhưng nghĩa vẫn là đáy nhé ko phải bờ
tick kiểu gì vậy
mong ngày nào cx ra 1 sự kiện
- Ý nghĩa:
- Bài thơ sử dụng các hình ảnh quen thuộc, vĩnh cửu của thiên nhiên như núi, trời, sông, biển để ca ngợi sự rộng lớn, vô tận của vũ trụ.
- "Sơn tắc kỳ cao thả hựu đại" (Núi thì cao và cũng lớn lao) mở đầu bằng hình ảnh núi non hùng vĩ, gợi lên sự vững chãi, to lớn.
- "Thiên diệc cao, kỳ viễn hựu khoát" (Trời cũng cao, lại xa và rộng) mở rộng không gian lên bầu trời, nhấn mạnh sự bao la, vô biên.
- "Hà lưu trường, trường chí vô biên" (Sông chảy dài, dài đến vô tận) và "Bích hải thâm u bất kiến để" (Biển xanh thẳm, không thấy đáy) tiếp tục khắc họa sự mênh mông của dòng chảy và đại dương.
- Thông qua những hình ảnh này, tác giả bộc lộ tình yêu và sự ngưỡng mộ trước vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên, đồng thời có thể ẩn chứa niềm tự hào về non sông đất nước (Sơn Hà Hùng Mỹ - Non sông hùng vĩ tươi đẹp).
- Đánh giá và nhận xét:
- Bài thơ sử dụng thể thơ tứ tuyệt (bốn câu, mỗi câu bảy chữ theo cấu trúc Hán Việt), ngôn từ cô đọng, giàu sức gợi hình, gợi cảm.
- Các từ ngữ như "hùng mỹ", "cao đại", "viễn khoát", "trường vô biên", "thâm u" được sử dụng rất đắc địa để miêu tả sự vĩ đại của tạo hóa.
- Biện pháp tu từ liệt kê và đối xứng (giữa các cặp câu) tạo nhịp điệu hài hòa, cân đối cho bài thơ.
- Tác phẩm không chỉ là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn là lời nhắc nhở về sự nhỏ bé của con người trước vũ trụ bao la, khơi gợi cảm xúc trầm tư, suy ngẫm về cuộc sống và ý nghĩa của sự tồn tại.
Tổng thể, "Sơn Hà Hùng Mỹ" là một bài thơ tứ tuyệt xuất sắc, ca ngợi vẻ đẹp bất tận của thiên nhiên và thể hiện tâm hồn rộng mở, yêu đời của tác giả.thấy hay cho mik một like^^
hay
Hay
Bài thơ mang nội dung ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, tập trung vào bốn hình tượng lớn là núi, trời, sông và biển. Mỗi câu đều miêu tả một sự vật với quy mô rộng lớn, tạo cảm giác khoáng đạt và mạnh mẽ.
Về ý nghĩa:
Núi tượng trưng cho sự vững chãi và hùng vĩ, bầu trời gợi sự cao rộng vô tận, dòng sông biểu hiện cho sự trường tồn, còn biển xanh sâu thẳm gợi vẻ đẹp bí ẩn của thiên nhiên. Toàn bài thể hiện tình yêu và sự ngợi ca trước vẻ đẹp của đất trời.
Về nghệ thuật:
Bài thơ sử dụng kết cấu song hành, mỗi câu đều xoay quanh một hình ảnh thiên nhiên, tạo sự cân đối. Các từ như "cao", "đại", "viễn", "khoát", "trường", "vô biên", "thâm u", "bất kiến đế" góp phần mở rộng không gian và tăng tính gợi hình. Ý thơ rõ ràng, dễ hiểu.
Về ngôn ngữ Hán Việt:
Có một số chỗ chưa thật tự nhiên nếu xét theo văn ngôn cổ điển. Chẳng hạn "thả hựu" và "diệc... hựu..." mang sắc thái gần với văn bạch thoại hơn văn ngôn. Cụm "kỳ viễn hựu khoát" và "trường chí vô biên" cũng hơi lặp ý. Nếu hướng tới phong cách thơ tứ tuyệt Hán cổ, câu chữ có thể cô đọng hơn.
Nhận xét:
Đây là một bài thơ có ý tưởng tốt, bố cục mạch lạc, hình tượng thống nhất và truyền tải được vẻ đẹp bao la của thiên nhiên. Tuy nhiên, nếu mục tiêu là sáng tác theo phong cách thơ Hán Việt cổ điển thì cần trau chuốt thêm về từ vựng, ngữ pháp văn ngôn và nhịp điệu để bài thơ tự nhiên, hàm súc hơn.
Đánh giá: Khoảng 8/10 đối với một bài thơ Hán Việt tự sáng tác, vì ý tưởng rõ, hình ảnh đẹp nhưng cách dùng từ Hán Việt vẫn còn một số điểm có thể chỉnh sửa để gần với văn phong cổ hơn.