Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1. (2,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh Gầy trong văn bản “Anh béo và anh gầy”
Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về cách nhìn nhận vấn đề: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”
Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.
Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.
Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.
Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.
câu 1
Trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho con người nhỏ bé, tầm thường và bị ám ảnh nặng nề bởi địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện khá tự nhiên, chân thành, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là người có chức quyền cao, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi một cách đột ngột và đáng buồn. Anh trở nên khúm núm, sợ sệt, lời nói ngập ngừng, cử chỉ lố bịch đến mức đánh mất hoàn toàn nhân cách của chính mình. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ áp lực bên ngoài mà đến từ tâm lí nô lệ quyền lực đã ăn sâu trong suy nghĩ của anh. Qua nhân vật anh gầy, nhà văn phê phán gay gắt thói xu nịnh, sự tự ti và sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội đương thời. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị của lòng tự trọng và nhân phẩm con người.
câu 2
Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn khó khăn, thử thách. Có những lúc, hiện thực không diễn ra theo mong muốn, buộc con người phải lựa chọn thái độ sống và cách nhìn nhận vấn đề để tiếp tục bước đi.
Ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” đã gợi ra một triết lí sâu sắc về cách con người đối diện với nghịch cảnh. Cùng một sự việc, có người chỉ nhìn thấy khó khăn, đau đớn, nhưng cũng có người nhận ra những giá trị tích cực ẩn chứa bên trong.
Lựa chọn cách nhìn nhận tích cực giúp con người giữ được niềm tin và sự lạc quan. Khi tập trung vào mặt tốt đẹp của vấn đề, ta sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách, không bị hoàn cảnh nhấn chìm hay đánh gục.
Thực tế đã chứng minh rằng nhiều con người thành công đều bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn. Nick Vujicic, người sinh ra không có tay chân, đã không than trách số phận mà coi nghịch cảnh là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân, trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người.
Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào “gai nhọn”, con người dễ rơi vào bi quan, chán nản và buông xuôi. Cách nhìn tiêu cực không làm cho hoàn cảnh tốt hơn mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, đánh mất cơ hội thay đổi cuộc sống.
Trong xã hội hiện nay, không ít người thất bại không phải vì thiếu năng lực mà vì thiếu tinh thần lạc quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, phàn nàn về hoàn cảnh thay vì tìm cách thích nghi và vươn lên.
Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là né tránh hay phủ nhận khó khăn. Đó là sự tỉnh táo để nhận ra thử thách, đồng thời chủ động tìm giải pháp, biến nghịch cảnh thành động lực phát triển bản thân.
Cuối cùng, lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề chính là lựa chọn cách sống. Khi biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, con người sẽ sống mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn và từng bước tiến tới một cuộc đời ý nghĩa.
Câu 1. Mục tiêu tổng quát của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030 là phát triển nhanh và bền vững, trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại của vùng trung du và miền núi phía Bắc, có cơ cấu kinh tế hợp lý, đời sống nhân dân được nâng cao, hạ tầng đồng bộ, đô thị phát triển, giữ vững quốc phòng an ninh và bảo vệ môi trường
Câu 2.
Công nghiệp: phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, công nghiệp hỗ trợ, khai thác và chế biến khoáng sản hợp lý, mở rộng các khu công nghiệp hiện đại
Nông nghiệp: phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nâng cao giá trị sản phẩm như chè, chăn nuôi, gắn với xây dựng nông thôn mới, áp dụng khoa học kỹ thuật
Dịch vụ: phát triển thương mại, logistics, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa lịch sử, dịch vụ giáo dục, y tế chất lượng cao, mở rộng kết nối vùng bao gồm cả khu vực Bắc Kạn cũ
Đoạn văn tham khảo
Với tấm lòng đồng cảm sâu sắc dành cho thân phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến, Nguyễn Du đã viết nên Truyện Kiều và Độc Tiểu Thanh kí, mà ở đó, người đọc thấy được rất nhiều điểm chung, đặc biệt là hai câu “Đau đớn thay phận đàn bà/Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” trong Truyện Kiều và “Cổ kim hận sự thiên an vấn,/Phong vận kì oan ngã tự cư” trong Độc Tiểu Thanh kí. Trong Truyện Kiều, hai câu thơ trên là lời cảm thán của Kiều (cũng chính là Nguyễn Du) về kiếp người hồng nhan bạc mệnh của Đạm Tiên - một kỹ nữ trong tác phẩm. Còn ở Độc Tiểu Thanh kí, toàn bài là lời cảm than, thương xót của Nguyễn Du gửi đến nàng Tiểu Thanh - một cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng cũng chịu chung số phận mệnh bạc. Điểm chung của hai câu thơ của hai bài đều là lời than thở, cảm thông, thương xót cho số phận bất hạnh như một định mệnh của những người phụ nữ tài hoa nhưng chung số phận của xã hội thời xưa. Họ đều đa tài, giỏi giang, xinh đẹp. Những người toàn vẹn như vậy xứng đáng có được cuộc sống hoàn hào, hạnh phúc. Nhưng dường như những điều bất hạnh luôn tìm đến họ, cướp mất hạnh phúc nhân gian của họ. Thánh thần hay ông Trời - những đấng tạo hóa luôn đẩy họ đến nghiệt ngã, khiến họ chỉ có thể than thân trách phận và chấp nhận số phận. Nguyễn Du tìm thấy ở họ những đau khổ chung, để cảm nhận và thương xót, và cũng để soi chiếu chính mình. Phải chăng số phận của mình cũng sẽ là như vậy? Chịu những khổ đau và ra đi, và bị quên lãng? Đó là nỗi niềm, trăn trở của Nguyễn Du về thời thế và cuộc đời, với những con người “tri âm tri kỉ”, đồng bệnh tương liên, dù chẳng bao giờ có thể gặp được nhau.
Câu 1
Từ nội dung của đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em có rất nhiều suy nghĩ về ý nghĩa của sống hữu ích trong cuộc đời mỗi con người. Vậy sống hữu ích là gì? Đó là lối sống tích cực, luôn mang lại những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống. Người sống hữu ích sẽ được mọi người yêu mến và ngợi ca. Thực tế cho thấy có rất nhiều người có phong cách sống này. Tiêu biểu Nick Vujicik, dù là người khuyết tật, những tưởng anh sẽ chẳng thể sống có ích, đem lại nhiều điều cho cuộc sống. Nhưng không, anh đã cảm hóa được rất nhiều người có hoàn cảnh như anh. Hơn hết, anh còn khơi gợi lên những giá trị vô cùng tốt đẹp đến với thế giới này. Thật vậy, sống có ích không chỉ giúp tâm hồn bạn được rộng mở mà nó còn giúp bạn có cái nhìn thiện cảm với đời hơn. Chưa dừng lại ở đó, sống hữu ích còn là một trong những lối sống được mọi người ưa chuộng, làm theo. Tuy nhiên, cạnh bên những người sống có ích vẫn còn có những người sống chỉ biết nghĩ đến bản thân, không biết san sẻ hạnh phúc của mình cho người khác. Nhưng ta cũng không thể sống tốt đẹp với những kẻ bần tiện, vô lương tâm. Thật vậy, mỗi chúng ta hãy sống tốt, sống luôn tỏa hương thơm ngát cho đời. Đừng sống vị kỉ và xấu xa.
Câu 2:
– Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng vĩ đại, đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Trong di sản văn học của Người, thơ ca là mảng sáng tác rất có giá trị, trong đó có thể kể đến tập thơ “Nhật kí trong tù”được sáng tác trong những ngày Người bị giam giữ ở các nhà lao thuộc tỉnh Quảng Tây. Chiều tối (Mộ -1942) là bài thơ được trích từ tập thơ này.
– Tố Hữu là nhà cách mạng, cũng là nhà thơ trữ tình chính trị tiêu biểu nhất của nền thơ ca cách mạng. Sự nghiệp cách mạng của Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp thơ ca của ông. Từ ấy (1938) là bài thơ hay được trích trong tập thơ cùng tên ghi lại thời khắc đặc biệt trong cuộc đời cách mạng và nghệ thuật của Tố Hữu khi nhà thơ được giác ngộ lí tưởng cách mạng, tìm thấy con đường đi cho cuộc đời mình và thơ ca.
– Cả hai bài thơ đều hướng tới khắc họa vẻ đẹp trong tâm hồn và lí tưởng sống cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng.
Câu 1:
-Phương thức biểu đạt chính của văn bản: thuyết minh.
Câu 2:
-Những thể loại thể hiện tài năng văn học của Puskin: thơ, tiểu thuyết bằng thơ, trường ca thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử,kịch...
Câu 3:
Theo tôi "Mặt trời của thi ca Nga" là cách nói ẩn dụ tôn vinh giá trị thơ và vị trí nhà thơ Puskin.
Thơ Puskin đánh thức những tình cảm tốt lành trong tâm hồn Nga khao khát tự do và tình yêu, mang sức mạnh tinh thần, có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn chương và lịch sử thức tỉnh của dân tộc Nga.
Puskin là nhà thơ vĩ đại có vị trí đặc biệt quan trọng - người khơi dậy sức phát triển phi thường cho văn học Nga thế kỉ XIXvaf đưa nó trở thành một trong những đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại.
Câu 4:
"Tôi yêu em" không chỉ đơn thuần là một bài thơ để thể hiện sự chân thành của A.Pu-skin dành cho người mình yêu mà còn đem đến bài học thật sâu sắc về thái độ ứng xử có văn hoá trong tình yêu. Tình yêu là sự rung động mãnh liệt về cảm xúc, về trái tim của con người, thật khó có định nghĩa nào toàn diện về khái niệm này. Tình yêu không chỉ là tình cảm lứa đôi, không phải chỉ xuất phát từ trái tim mà còn đến từ khối óc của con người. Đó là thái độ ứng xử có văn hóa. Vậy điều này được thể hiện như thế nào? Trước hết đó là tôn trọng người mình yêu qua cách xưng hô như A. Pu-skin đã từng nói một cách đầy tình cảm rằng Tôi / em. Cách gọi ấy thể hiện sự trang trọng, dành trọn trái tim cho người mà mình yêu thương. Không những thế, tôn trọng sự lựa chọn của người mình yêu cũng là việc ứng xử có văn hóa trong tình yêu. Pu-skin đã không phản bác mà tự nguyện chấp nhận sự lựa chọn của người con gái, cũng không hờn dỗi, trách móc hay oán thán, tự nhận về mình trách nhiệm đã làm người con gái phải bận lòng, phải u hoài. Yêu nhưng luôn hướng về đối phương để em không bận lòng vì em nữa, hi sinh vì niềm đam mê, vì hạnh phúc nơi em chọn lựa. Tình yêu không phải là sự ép buộc mà tình yêu là một sự tự nguyện: tự nguyện của những tâm hồn đồng cảm, đồng điệu. Song chia tay không phải để trở thành đối lập, thù địch của nhau mà chia tay để nối thêm, để mở rộng tình đòi. Đó là văn hoá ứng xử trong tình yêu. Nhân vật trữ tình trong bài thơ không thể đến, không có cơ hội trao duyên mong thành đôi thì mong người con gái ấy sẽ hạnh phúc với lựa chọn của mình. Tình yêu cần hướng đến sự đồng điệu, đồng cảm, sự tận tụy hi sinh, cần mãnh liệt để yêu và cần tinh tế để cảm nhận. Đó mới là cách úng xử tuyệt vời nhất, thông minh và có văn hóa.
Câu 1:
Thể thơ: Thơ bảy chữ
Câu 2:
Vần: Vần "ay" (bay - tay).
Kiểu vần: Vần chân, vần liền.
Câu 3:
Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".
• Tác dụng:
• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.
• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.
• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.
Câu 4:
-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.
-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.
Câu 5:
-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....
- Tác dụng:
+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.
+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Nghị luận.
Câu 2. Theo đoạn trích, người có lí và người vô lí khác nhau ở chỗ:
“Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân.”
Tức là người có lí thuận theo những điều hiển nhiên đã được thế giới công nhận, còn người vô lí thì ngược lại.
Câu 3. Dựa vào đoạn trích, người vô lí được hiểu là người biết phản biện, nghi ngờ những kiến thức sẵn có, biết đẩy xa những giới hạn, biết lật lại những cái mặc định, đương nhiên, biết dũng cảm, can trường khai phá cái mới dù bị chỉ trích, cười nhạo viển vông…
Câu 4.
- Đồng tình vì:
+ Người biết ước mơ dám suy nghĩ đến những điều không tưởng.
+ Người biết ước mơ lớn tưởng như viển vông nhưng có năng lực, ý chí có thể đạt đến những thành tựu…
c1; nghị luận
c2; người có lí...... thế giới,người vô lí...bản thân
c3?
c4?
[ e mới học lớp 7 thôi ko biết có đ ko]
k cho e ạ , mong chị thông cảm
Câu 1:Ptbd trong bài thơ là:Biểu cảm,miêu tả.
Câu 2:Đề tài của bài thơ là:Nỗi đau khổ tột cùng, sự chia lìa, và tiếng kêu tuyệt vọng của một trái tim yêu đương tha thiết nhưng bị dày vò bởi bệnh tật và số phận.
Câu 3:Một hình ảnh thơ mang tính tượng trưng là:"Một nửa hồn tôi mất".Đó là một hình ảnh tượng trưng đầy ám ảnh, khắc họa nỗi đau xót xa, sự tan vỡ tuyệt vọng và tâm trạng phân liệt của chủ thể trữ tình khi tình yêu ra đi.
Câu 4:Biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ cuối bài thơ là câu hỏi tu từ:"Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?","Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?".
Tác dụng:Tác giả không nhằm mục đích tìm kiếm câu trả lời thực tế mà để diễn tả sự bàng hoàng, mất phương hướng và nỗi cô đơn đến rợn ngợp của cái tôi cá nhân trước vũ trụ bao la.
Câu 5:Cấu tứ của bài thơ "Những giọt lệ" (Hàn Mặc Tử) là dòng tâm tư đứt gãy, tự vấn đầy đau khổ về sự tồn tại, chuyển hóa từ nỗi buồn thương thông thường sang khủng hoảng tinh thần sâu sắc.
Câu 1 :
Phương thức biểu đạt trong bài thơ trên là : biểu cảm , tự sự , miêu tả và kết hợp
Câu 2 :
Đề tài trong bài thơ trên là tình yêu, sự chia ly , nỗi đau khổ và sự tuyệt vọng của con người trước cuộc đời và bệnh tật
Câu 3 :
Hình ảnh " bông phượng nở trong màu huyết " mang tính tượng trưng sâu sắc, thể hiện sự đau đớn, xót xa tột cùng của người thi nhân
Câu 4 :
Biện pháp tu từ được sử dụng ở khổ thơ cuối
" tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
[...]
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu ? "
là biện pháp ẩn dụ
Tác dụng : tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ , thể hiện nỗi đau đã vật chất hóa thành máu và nước mắt, thấm sâu vào tâm hồn của thi nhân từ đó nhấn mạnh sự phân liệt của tâm hồn, sự khủng hoảng tinh thần sâu sắc và tiếng kêu uất nghẹn của một trái tim đang chịu đựng nỗi đau tột cùng
Câu 5 :
Bài thơ sử dụng cấu tứ độc đáo, tập trung vào hình ảnh ẩn dụ " những giọt lệ ". Cấu tứ trong bài thơ chỉ xoay quanh lý giải nguồn gốc và ý nghĩa của những giọt nước mắt, từ ngoại cảnh ( bông phượng màu huyết) đến nội tâm ( lòng tôi những giọt châu). Cấu trúc ngắn gọn, súc tích nhưng chứa đựng những tình nghĩa sâu sắc về tình yêu , nỗi đau và triết lý sống của Hàn Mặc Tử
Câu 1: Bài thơ sử dụng phương thức biểu cảm là chính, kết hợp với miêu tả. Biểu cảm giúp bộc lộ trực tiếp nỗi đau và tuyệt vọng của cái tôi trữ tình, còn miêu tả làm rõ trạng thái cảm xúc qua những hình ảnh ám ảnh.
Câu 2: Đề tài của bài thơ là nỗi đau đớn, mất mát và tuyệt vọng của con người trước sự chia lìa trong tình yêu, đồng thời thể hiện cảm giác cô đơn, trống rỗng trong tâm hồn.
Câu 3: Hình ảnh thơ mang tính tượng trưng tiêu biểu là:
“Người đi, một nửa hồn tôi mất”.
Hình ảnh này tượng trưng cho sự tổn thương sâu sắc trong tâm hồn, cho thấy khi người yêu rời xa, cái tôi trữ tình như mất đi một phần sự sống và ý thức.
Câu 4: Khổ thơ cuối sử dụng câu hỏi tu từ kết hợp với hình ảnh ẩn dụ như “trời sâu”, “bông phượng nở trong màu huyết”. Các biện pháp này làm nổi bật trạng thái hoang mang, lạc lõng và đau đớn tột cùng, khiến cảnh vật cũng nhuốm màu bi thương, đồng cảm với tâm trạng nhà thơ.
Câu 5: Bài thơ có cấu tứ theo mạch cảm xúc tăng tiến: từ nỗi đau khi chia lìa, đến cảm giác mất mát tinh thần, và kết thúc bằng sự tuyệt vọng, bơ vơ. Cấu tứ ấy phù hợp với phong cách thơ giàu cảm xúc và đau thương của Hàn Mặc Tử.
Câu 1: Những phương thức biểu đạt dùng trong bài thơ là : Biểu cảm , miêu tả , tự sự
Câu 2.
Đề tài của bài thơ là nỗi đau tinh thần và bi kịch trong tình yêu của con người. Qua đó, tác giả thể hiện sự cô đơn, tuyệt vọng và khát khao được yêu thương của cái tôi trữ tình trước sự rời xa của người mình yêu và trước số phận nghiệt ngã.
Câu 3.
Hình ảnh thơ mang tính tượng trưng tiêu biểu trong bài thơ là hình ảnh “bông phượng nở trong màu huyết”. Hoa phượng vốn gắn liền với tuổi trẻ và những cuộc chia ly, nay lại xuất hiện trong “màu huyết” đã tạo nên cảm giác đau đớn, ám ảnh. Hình ảnh này tượng trưng cho nỗi đau tinh thần dữ dội của cái tôi trữ tình, cho một tình yêu tan vỡ để lại những vết thương sâu sắc không thể nguôi ngoai.
Câu 4.
Trong khổ thơ cuối, tác giả sử dụng nổi bật biện pháp tu từ câu hỏi tu từ như “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?”, “Ai đem bỏ tôi dưới trời sâu?”. Những câu hỏi ấy không nhằm tìm câu trả lời mà nhằm bộc lộ trạng thái hoang mang, lạc lõng, mất phương hướng của cái tôi trữ tình. Bên cạnh đó, các hình ảnh ẩn dụ như “bông phượng”, “màu huyết”, “giọt châu” đã góp phần cụ thể hóa nỗi đau tinh thần, làm cho cảm xúc thơ trở nên sâu sắc và ám ảnh hơn.
Câu 5.
Bài thơ có cấu tứ triển khai theo mạch cảm xúc. Từ những câu thơ đầu thể hiện nỗi đau đớn và tuyệt vọng, cảm xúc dần được đẩy lên cao trào ở khổ cuối với trạng thái hoang mang và tan vỡ. Cấu tứ ấy đã làm nổi bật thế giới nội tâm phức tạp, mãnh liệt của cái tôi trữ tình Hàn Mặc Tử.
Câu 1 PTBĐ trong vb là Biểu Cảm
Câu 1:
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ: biểu cảm, miêu tả, tự sự,…
Câu 2. Đề tài của bài thơ:
Bài thơ viết về nỗi đau tinh thần, sự cô đơn và tuyệt vọng của con người trước tình yêu tan vỡ và thân phận bị ruồng bỏ, đồng thời phản ánh bi kịch cuộc đời và tâm hồn đau đớn của nhà thơ Hàn Mặc Tử.
Câu 3. Một hình ảnh thơ mang tính tượng trưng và cảm nhận:
Hình ảnh “những giọt châu” mang ý nghĩa tượng trưng cho nước mắt, cho nỗi đau tận cùng rơi xuống trái tim nhà thơ. “Giọt châu” vốn là hình ảnh đẹp, quý giá nhưng ở đây lại gắn với đau thương, cho thấy bi kịch tinh thần sâu sắc, vừa đau đớn vừa xót xa, thể hiện tâm hồn nhạy cảm và tuyệt vọng của tác giả.
Câu 4. Tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ cuối:
Khổ thơ cuối sử dụng câu hỏi tu từ, kết hợp với ẩn dụ và hình ảnh tượng trưng:
Câu 5.
Nhận xét về cấu tứ của bài thơ:
Bài thơ có cấu tứ theo dòng cảm xúc, mạch thơ phát triển từ câu hỏi về sự sống – cái chết, đến nỗi đau chia lìa trong tình yêu, rồi kết thúc bằng trạng thái hoang mang, tuyệt vọng. Cấu tứ tự do nhưng chặt chẽ, cảm xúc dồn nén, tăng dần, phù hợp với phong cách thơ đầy ám ảnh và bi thương của Hàn Mặc Tử.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp với tự sự và miêu tả.
Câu2
Đề tài của bài thơ là nỗi đau khổ, tuyệt vọng và sự chia lìa.
Câu3
Hình ảnh thơ mang tính tượng trưng Trong bài thơ "Những giọt lệ", một hình ảnh thơ mang tính tượng trưng tiêu biểu là: "mặt nhựt tan thành máu".Câu 4
Các biện pháp tu từ chính được sử dụng trong khổ thơ cuối là câu hỏi tu từ và ẩn dụ. Trong khổ thơ cuối:"Sao bông phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?"
Câu hỏi tu từ: Cả hai câu thơ đều là câu hỏi tu từ, không nhằm mục đích tìm kiếm câu trả lời mà để bộc lộ trực tiếp tâm trạng, cảm xúc mãnh liệt của nhân vật trữ tình. Tác dụng là nhấn mạnh sự bàng hoàng, đau đớn, thắc mắc tột cùng trước cảnh vật, làm cho lời thơ thêm phần day dứt, gợi cảm
Câu 5