Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tham khảo
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện cổ tích hay, để lại nhiều bài học sâu sắc và ý nghĩa. Truyện Tấm Cám là một trong số những tác phẩm như thế, nhân vật cô Tấm là điển hình cho vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam, vừa đẹp người lại đẹp nết, dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn giữ được tính cách nhân hậu, đảm đang, chính vì thế nàng đã có được hạnh phúc sau cùng.
Xây dựng lên Tấm là một cô gái mồ côi cha mẹ, phải sống với mẹ con dì ghẻ. Tấm bị bắt làm việc vất vả, nặng nhọc và bị đối xử bất công. Có thể nhận thấy được chính với hoàn cảnh Tấm tiêu biểu cho hoàn cảnh của người con riêng trong chuyện cổ tích. Thế nhưng Tấm lại có phẩm chất hiền lành, chăm chỉ chịu thương chịu khó. Tấm chính là hiện thân cho cái thiện, cái đẹp ở người lao động. Hình ảnh cô Tấm hiền lành chăm chỉ là thế nhưng phải chịu đựng, cam chịu sự đày đọa bất công của mẹ con Cám. Tấm đã phải làm việc vất vả còn Cám thì được nuông chiều. Giỏ tép do chính Tấm bắt cực nhọc lại bị Cám cướp mất, chính Cám đã cướp đi thành quả lao động của Tấm. Cho đến khi cả khi làng mở hội thì Tấm cũng ngoan ngoãn làm theo lời dì dặn mà không cãi lại cũng không dám chốn đi. Lúc này đây thì Tấm lại khóc và con người hiền lành ấy cũng được bụt giúp đỡ, khi Tấm đã trở thành hoàng hậu thì Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại hết lần này đến lần khác. Với ngôi vị hoàng hậu và cuộc sống giàu sang cũng chưa đủ để cứu Tấm khỏi âm mưu hãm hại của dì ghẻ. Thế rồi không chỉ thế Tấm đã rất nhiều lần chết đi sống lại và hóa thân vào nhiều thứ từ hóa thân thành chim vàng anh, rồi thành cây xoan đào, hay cũng là hiện hình vào khung cửi rồi vào quả thị và trở thành người. Cô Tấm luôn luôn phản kháng quyết liệt hóa thân và hồi sinh để đấu tranh giành sự sống và hạnh phúc.
Hình ảnh đẹp của Tấm mà giúp chúng ta hiểu hơn phần nào cuộc sống của người lao động trong xã hội cũ. Những con người này thấp cổ bé họng và bỗng nhiên bị trà đạp bất công và không có quyền nói lên tiếng nói của mình. Chính vì thế mà họ gửi những ước mơ của mình, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn vào trong cổ tích bình chứa ước mơ của dân gian xưa.
Dưới đây là đoạn văn tóm tắt văn bản **"Bầy chim chìa vôi"** của **Nguyễn Quang Thiều** (7–10 câu):
---
Văn bản *“Bầy chim chìa vôi”* kể về hình ảnh một bầy chim sống gần ngôi mộ của người cha đã mất. Tác giả đã dùng hình ảnh bầy chim như một biểu tượng của tình cảm thiêng liêng, gắn bó giữa cha và con. Mỗi buổi sáng, chim bay đến đậu trên mộ, hót líu lo như để trò chuyện, an ủi người đã khuất. Sự xuất hiện đều đặn của chúng khiến người con cảm nhận như cha mình vẫn còn hiện diện đâu đây, trong thiên nhiên và trong tâm hồn anh. Bầy chim mang đến sự ấm áp, xua tan nỗi cô đơn và buồn đau của con người trước mất mát. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thương sâu sắc dành cho người cha đã khuất. Văn bản vừa nhẹ nhàng, sâu lắng, vừa chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa về sự sống, cái chết và tình cảm gia đình. Bằng hình ảnh ẩn dụ tinh tế, Nguyễn Quang Thiều đã khơi gợi cảm xúc và suy ngẫm trong lòng người đọc.
---
Nếu bạn cần viết đoạn này theo kiểu học sinh lớp 6 hoặc lớp 7 thì mình có thể điều chỉnh cho phù hợp hơn. Bạn có muốn mình làm vậy không?
Tk
Bài "Đàn chim chìa vôi" của nhà văn Nguyễn Quang Thiều là một câu chuyện cảm động về tình yêu thương, sự hy sinh và lòng dũng cảm. Đoạn trích kể về hai anh em Mên và Mon sống ở làng Chử Chử, chứng kiến đàn chim chìa vôi bị mắc kẹt trên bãi sông sau một trận lũ. Nước sông dâng cao, đe dọa cuốn trôi tổ chim non, trong khi những con chim bố mẹ đã bay đi tìm mồi. Mặc dù Mên và Mon biết rõ sự nguy hiểm, nhưng vì thương những chú chim nhỏ, hai anh em đã quyết định bơi ra để cứu chúng. Bằng tất cả sự dũng cảm và nỗ lực, họ đã đưa được tổ chim vào bờ an toàn. Hành động cao đẹp này không chỉ thể hiện tình yêu của con người đối với thiên nhiên mà còn khắc sâu một bài học về lòng nhân ái, sự sẻ chia trong cuộc sống. Câu chuyện còn ẩn chứa sự gắn kết giữa anh em Mên và Mon, làm nổi bật thêm vẻ đẹp của tình người, tình yêu thương đồng loại.
Đây bn
Câu 1.
Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ.
Câu 2.
Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:
“Cánh chim bay xuống chiều”
“Buổi chiều thu mướt xanh”
“Nhấp nhô đều sóng lúa”
Câu 3.
Từ láy: chậm rãi
Tác dụng: Gợi tả sự thong thả, yên bình của cảnh vật và nhịp sống ở đồng quê, góp phần tạo nên không khí êm đềm, nhẹ nhàng cho bức tranh chiều thu nơi đồng nội.
Câu 4.
Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.
Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất trong trẻo, dịu dàng và nên thơ với màu sắc nhẹ nhàng, hương thơm của cỏ hoa, hình ảnh sống động của chim, cò, trâu và làn khói bếp – tất cả gợi nên vẻ đẹp thanh bình, gần gũi của làng quê Việt Nam.
Câu 5.
Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)
Tác dụng: Làm cho hình ảnh làn khói bếp trở nên có hồn, như có thể trò chuyện với thiên nhiên. Qua đó thể hiện sự giao hòa giữa con người và vạn vật, tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và nên thơ của làng quê lúc chiều thu.
Câu 6.
Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều cùng bà đi chăn trâu trên cánh đồng quê, ngắm hoàng hôn buông xuống và hít hà mùi thơm của rơm rạ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng: tác giả muốn truyền tải vẻ đẹp bình dị, thanh bình và đầy yêu thương của quê hương, nơi luôn lưu giữ những ký ức trong trẻo và gắn bó với tuổi thơ mỗi người.
Với gió bắc, đi về rét mướt,
Nương chuối già nghe lạnh sẽ rùng mình
Vài chim quen thưa thớt ở đầu cành
Còn lưu luyến ngày tàn trong nắng yếu
Bài thơ “Đàn kiến nó đi” mang đến cho em cảm giác thích thú và gần gũi với thiên nhiên. Hình ảnh đàn kiến nối đuôi nhau đi thành hàng thật trật tự và chăm chỉ khiến em khâm phục tinh thần làm việc và đoàn kết của loài vật bé nhỏ này. Lời thơ ngắn gọn, nhịp điệu vui tươi như một bài hát nhỏ, khiến em muốn đọc đi đọc lại nhiều lần. Qua bài thơ, em học được bài học về sự siêng năng, kỷ luật và sức mạnh của tinh thần tập thể. Đọc thơ, em như thấy cả một đàn kiến nhỏ đang lặng lẽ làm việc, và em thầm nhủ mình cũng phải chăm ngoan và biết giúp đỡ mọi người xung quanh.
Olm chào em. Đây đúng là các tiêu chí tuyệt vời để xây dựng một lớp học tri thức và nhân văn, lớp học văn minh trong hạnh phúc.
Trong một lần cùng tía nuôi vào rừng U Minh, cậu bé An đã gặp chú Võ Tòng – một người sống cô độc giữa rừng sâu. Qua cuộc trò chuyện, An biết được cuộc đời đầy bi kịch của chú: từng bị địa chủ vu oan, phải đi tù, mất con, vợ bị ép làm vợ lẽ, khiến chú bỏ làng vào rừng sống một mình. Dù có vẻ ngoài kỳ dị, chú Võ Tòng lại là người nghĩa khí, sống chân thành, luôn giúp đỡ người khác và mang trong mình lòng yêu nước sâu sắc. Trước khi chia tay, chú còn trao cho tía nuôi An chiếc nỏ và ống tên thuốc để phòng thân, thể hiện sự cảnh giác và tinh thần kháng chiến.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 :
1. Ngọc An là người kể chuyện
2. Câu chuyện xảy ra ở đâu khi: Trong bối cảnh đất nước đang sục sôi tinh thần cách mạng giành độc lập.
3. Trong câu chuyện có những nhân vật: Vũ Quý , Văn Cao ,ông Ph.D .
4.Những sự kiện liên quan đến sự ra đời của bài hát “Tiến quân ca” là gắn liên với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
5. Người kể có suy nghĩ về sự kiện của bài hát “Tiến quân ca” ra đời như một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng thông điệp về tinh thần chiến đấu kiên cương , ý chí bất khất của người lính ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên tình yêu quê hương đất nước.
- Người kể chuyện: Ngọc An.
- Bối cảnh: Đất nước đang sục sôi tinh thần cách mạng giành độc lập.
- Nhân vật: Vũ Quý, Văn Cao, ông Ph.D.
- Sự kiện chính: Sự ra đời của bài hát “Tiến quân ca” trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
- Ý nghĩa của bài hát (quan điểm của người kể chuyện): Một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng tinh thần chiến đấu kiên cường, ý chí bất khuất của người lính, và ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước.



Trong truyện "Kiến Giết Voi", nhân vật Kiến được khắc họa như một biểu tượng của sự thông minh, kiên nhẫn và khả năng vượt qua thử thách dù nhỏ bé. Kiến, dù có kích thước nhỏ bé so với Voi, nhưng nhờ trí tuệ và sự kiên trì, đã tìm cách đánh bại kẻ thù lớn hơn mình gấp nhiều lần.
Nhân vật Kiến thể hiện những đặc điểm nổi bật:
Qua nhân vật Kiến, tác giả muốn gửi gắm thông điệp về giá trị của trí tuệ và sự kiên trì, rằng dù nhỏ bé nhưng nếu biết cách, ta có thể vượt qua mọi thử thách.
Biết rồi nhưng mà không biết