K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Bài phân tích dưới đây sẽ làm rõ nội dung và nghệ thuật của bốn câu thơ, thể hiện sự đau xót và tình cảm sâu sắc của Tố Hữu trước sự ra đi của Bác. Bốn câu thơ "Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác/ Tôi lại đau trước bác mấy ngày/ Làm sao bác vội về ngay /Chợt nghe, tôi bỗng rụng rời tay chân" được trích từ bài thơ "Bác ơi!" của nhà thơ Tố Hữu, là những vần thơ đầy cảm xúc và chân thành, thể hiện nỗi đau xót tột cùng của tác giả trước tin Bác Hồ qua đời.
  • Nội dung:
    • Nội dung chính của đoạn thơ là sự bộc bạch trực tiếp nỗi đau và niềm tiếc thương vô hạn của Tố Hữu dành cho Bác.
    • Tác giả sử dụng cách xưng hô "tôi - bác" rất thân mật, gần gũi, như cuộc đối thoại giữa hai người thân trong gia đình.
    • Câu thơ "Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác/ Tôi lại đau trước bác mấy ngày" thể hiện sự ngỡ ngàng, không tin vào sự thật. Theo lẽ thường, người lớn tuổi hơn sẽ ra đi trước, nhưng ở đây lại ngược lại, Bác ra đi khi tuổi đời chưa phải là quá cao so với tác giả. Điều này làm tăng thêm sự bàng hoàng, xót xa.
    • Câu hỏi tu từ "Làm sao bác vội về ngay" chất chứa sự níu kéo, sự tiếc nuối khôn nguôi, thể hiện mong muốn Bác ở lại lâu hơn với dân tộc, với đất nước.
    • Cảm xúc đỉnh điểm được thể hiện qua câu "Chợt nghe, tôi bỗng rụng rời tay chân", miêu tả chân thực phản ứng vật lý của cơ thể trước một cú sốc tinh thần quá lớn, nỗi đau đột ngột ập đến khiến con người như mất hết sức lực, bàng hoàng đến tột độ.
  • Nghệ thuật:
    • Thể thơ lục bát biến thể, nhịp thơ chậm rãi, phù hợp với tâm trạng đau buồn, suy tư.
    • Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, dễ đi vào lòng người.
    • Cách xưng hô "tôi - bác" tạo không khí thân tình, ấm áp.
    • Sử dụng câu hỏi tu từ, phép đối lập (tuổi tác - sự ra đi) và hình ảnh ẩn dụ (rụng rời tay chân) để tăng sức biểu cảm.
Qua đoạn thơ ngắn gọn này, Tố Hữu đã thành công trong việc truyền tải nỗi đau mất mát to lớn của cá nhân mình, đồng thời cũng là nỗi đau chung của cả dân tộc khi mất đi vị lãnh tụ kính yêu. Đoạn thơ là một minh chứng cho tình cảm sâu đậm, chân thành mà Tố Hữu dành cho Bác Hồ.
11 tháng 4

Câu 1:Nhân vật người chinh phụ trong văn bản thể hiện hình ảnh người phụ nữ chung thủy, giàu tình cảm và mang nặng nỗi niềm mong đợi chồng. Trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc, chinh phụ phải sống cảnh đơn côi, ngày ngày ngóng trông chồng từ nơi xa xăm. Hình ảnh của người phụ nữ này thể hiện rõ nét nỗi niềm thương nhớ da diết, sự kiên nhẫn, hy sinh của người phụ nữ trong thời chiến. Dù cuộc sống thiếu thốn, vất vả, nhưng lòng trung thành, thủy chung, tình yêu dành cho chồng vẫn giữ vững trong trái tim nàng. Qua đó, nhân vật còn phản ánh hình ảnh của những người phụ nữ Việt Nam xưa, luôn âm thầm chịu đựng, gắn bó, hy sinh vì đất nước, vì hạnh phúc của gia đình. Người chinh phụ không chỉ là biểu tượng của tình yêu thủy chung mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, của niềm tin vào ngày mai tươi sáng, khi chiến tranh qua đi, đất nước hòa bình, cuộc sống yên bình trở lại.


Câu 2:Chiến tranh mang lại những mất mát to lớn về người và của, gây ra đau thương tang tóc cho biết bao gia đình, quốc gia. Hình ảnh người chinh phụ trong "Chinh phụ ngâm" là biểu tượng của nỗi đau, sự chia ly, mất mát do chiến tranh gây ra. Họ phải sống trong nỗi mong đợi, chờ đợi người thân trở về trong vô vọng, chịu đựng cảnh đơn côi, đớn đau tinh thần. Những mất mát ấy không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần, làm tan nát trái tim, làm rạn vỡ hạnh phúc gia đình, gây tổn thương sâu sắc trong tâm hồn mỗi người. Chính vì vậy, chiến tranh không chỉ là cuộc chiến của binh lính trên chiến trường mà còn là nỗi đau của toàn xã hội, của từng số phận con người. Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay là phải trân trọng và giữ gìn hòa bình, vì hòa bình là nền tảng để xây dựng đất nước phát triển thịnh vượng, để mọi người có cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Các thế hệ trẻ cần hiểu rõ giá trị của hòa bình, tích cực góp phần giữ vững nền hòa bình bền vững, không để chiến tranh tái diễn. Họ cần sống có trách nhiệm, lan tỏa những giá trị nhân ái, yêu thương để xây dựng một xã hội bình yên, hạnh phúc, góp phần giữ gìn đất nước trong thái độ tự hào và trân trọng.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:Chuyện Lý tướng quân "Vua Giản Định nhà Hậu Trần lên ngôi ở Mô Độ(1), hào kiệt bốn phương, gần xa hưởng ứng, đều chiêu tập đồ đảng làm quân Cần Vương. Người huyện Đông Thành(2) là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận, Quốc công Đặng Tất(3) tiến cử cho Lý được làm...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

Chuyện Lý tướng quân

"Vua Giản Định nhà Hậu Trần lên ngôi ở Mô Độ(1), hào kiệt bốn phương, gần xa hưởng ứng, đều chiêu tập đồ đảng làm quân Cần Vương. Người huyện Đông Thành(2) là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận, Quốc công Đặng Tất(3) tiến cử cho Lý được làm chức tướng quân, sai cầm một cánh hương binh đi đánh giặc. Quyền vị đã cao, Lý bèn làm những việc trái phép, dựa lũ trộm cướp như lòng ruột, coi người nho sĩ như cừu thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, lại tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn đuổi xóm giềng cho rộng đất, đi kiếm những hoa kỳ đá lạ từ bên huyện khác đem về. Người trong vùng phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em đi, chồng về thì vợ đổi, ai nấy đều vai sưng tay rách, rất là khổ sở, nhưng hắn vẫn điềm nhiên không chút động tâm.

Bấy giờ có một ông thầy tướng số đến cửa xin ăn và có thể nói được những việc họa phúc. Lý bảo xem tướng mình, ông thầy nói:

– Lợi cho việc làm không gì bằng nói thẳng, khỏi được tật bệnh không gì bằng thuốc đắng. Nếu ngài dung nạp thì tôi sẽ nói hết lời. Đừng vì đắng miệng mà ghét quở khiến tôi phải e dè kiêng tránh mới được.

Lý nói:

– Được, không hề gì.

Ông thầy nói:

– Điều thiện ác tích lâu sẽ rõ, sự báo ứng không sai chút nào. Cho nên luận số trước phải luận lý, tướng diện không bằng tướng tâm. Nay Tướng quân có dữ mà không lành, khinh người mà trọng của, mượn oai quyền để làm bạo ngược, buông tham dục để thỏa ngông cuồng, đã trái lòng trời, tất bị trời phạt, còn cách nào mà trốn khỏi tai họa!

Lý cười:

– Ta đã có binh lính, có đồn lũy, tay không lúc nào rời qua mâu, sức có thể đuổi kịp gió chớp, trời dù có giỏi cũng sẽ phải tránh ta không kịp, còn giáng hoạ cho ta sao được.

Thầy tướng nói:

– Tướng quân cậy mình mạnh giỏi chưa thể lấy lời nói để cho hiểu được, vậy tôi có chùm hạt châu nhỏ, xin đưa tướng quân xem sẽ biết rõ dữ lành, tướng quân có bằng lòng xem không?

Nhân lấy chùm hạt châu ở trong tay áo ra. Lý trông xem, thấy trong đó có lò lửa, vạc sôi, bên cạnh có những người đầu quỷ ghê gớm, hoặc cầm thừng chão, hoặc cầm dao cưa, mình thì đương bị gông xiềng, bò khúm núm ở bên vạc dầu, lấm lét sợ toát mồ hôi. Hỏi có cách gì cứu gỡ không, thì thầy tướng nói:

– Gốc ác đã sâu, mầm vạ sắp nẩy. Cái kế cần kíp ngày nay chỉ còn có đuổi hết hầu thϊếp, phá hết vườn ao, trút bỏ binh quyền, quy đầu phúc địa, tuy tội chưa thể khỏi được, nhưng cũng còn có thể giảm trong muôn một.

Lý ngẫm nghĩ lúc lâu rồi nói:

– Thôi thầy ạ, tôi không thể làm thế được. Có ai lại vì lo cái vạ sau này chưa chắc đã có, mà vứt bỏ những cái công cuộc sắp thành làm hì hục trong mấy năm bao giờ.

Sau đó hắn càng làm những sự dâm cuồng, chém giết, không kiêng dè gì cả. Người mẹ tức giận nói:

– Ưa sống ghét chết, ai ai cũng lòng, đạo trời sáng tỏ, cớ sao mày hay làm những sự giết chóc như vậy. Không ngờ ta đến lúc tuổi già, lại phải trông thấy đứa con mắc hình lục có ngày. […] Năm 40 tuổi thì Lý chết ở nhà.

Trước đây có người bản châu là Nguyễn Quỳ, khảng khái chuộng điều khí tiết, vốn cùng chơi thân với Thúc Khoản(4), nhưng chết đã ba năm nay rồi. Một hôm Thúc Khoản đi chơi sớm, chợt gặp ở đường; Nguyễn Quỳ bảo Thúc Khoản rằng:

– Phụ thân sắp bị đem ra tra hỏi. Tôi vì quen thân với anh, nên đến bảo cho anh biết trước. Anh có muốn xem, tối mai tôi cho người đến đón, anh sẽ được xem. Nhưng xem rồi cần phải giữ kín. Nếu nói hở ra một lời thì tai vạ sẽ lây sang đến tôi ngay.

[Lược một đoạn: Nửa đêm hôm đó, Thúc Khoản được đón xuống dưới Minh Ti, chứng kiến cảnh xét tội của các linh hồn. Thúc Khoản được tận mắt chứng kiến các phán quan tâu bày tội trạng, công lao của những người ấy. Người làm việc ác bị định tội, người hành thiện tích đức thì được làm tiên hoặc được cho chuyển kiếp vào nhà có phúc, hưởng lộc ba đời,… Đến lượt Hữu Chi, vì những tội ác chồng chất mà hắn đã từng gây ra, hắn đã bị trừng trị bằng những hình phạt vô cùng đau khổ: Lấy nước sôi rửa ruột để trị cái tội ghẹo vợ người, lấy truỳ thủ moi ruột để lòng tham không nổi lên nữa, bị đày vào ngục Cửu U lấy dây da chét lấy đầu, lấy dùi lửa đóng vào chân, bị chim cắt mổ vào ngực, bị rắn độc cắn vào bụng, trầm luân kiếp kiếp. Thúc Khoản chứng kiến hết thảy, giật mình tỉnh dậy ở cõi thực. Chàng quyết định đem tán cấp của cải cho mọi người và đốt hết văn tự nợ, vào rừng hái thuốc để tu luyện.]

Lời bình:

Than ôi! Đạo trời chí công mà vô tư, lưới trời tuy thưa mà chẳng lọt, cho nên hoặc có người lúc sống khỏi vạ mà lúc chết bị hình. Song, chịu hoạ ở lúc sống, người đã không hiểu, phải tội ở lúc chết, người lại không hay; vì thế mà đời thường có lắm loạn thần tặc tử. Ví thử họ hiểu, họ hay thì dù bảo làm ác cũng không dám làm. Song Lý Mỗ đã trông thấy và biết rõ rồi lại còn làm tệ hơn. Đó là người hư tồi bậc nhất không chuyển đổi được, không còn thể nói bàn gì nữa."

(Nguyễn Dữ, Truyền kì mạn lục, theo truyenhdt.com)

Chú thích:

(1) Mộ Đô: Yên Mô, nay thuộc tỉnh Ninh Bình.

(2) Đông Thành: Huyện Đông Thành, nay thuộc Nghệ An.

(3) Đặng Tất: (Không rõ năm sinh, mất năm 1409) Một võ tướng giỏi và chủ chốt trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Trần Giản Định khởi xướng. Năm 1408, Đặng Tất chỉ huy đánh trận Bô Cô, giết được hai tướng Minh; Mộc Thạnh cũng suýt bị nguy, may chạy thoát. Cũng vì chiến công đó, Giản Định nghe lời gièm pha, không theo kế hoạch của Đặng Tất lại giết oan ông. Con trai Đặng Tất là Đặng Dung đã tức giận bỏ về Nghệ An đi theo Trần Quý Khoáng.

(4) Thúc Khoản: Con trai của Lý Hữu Chi.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?

Câu 2. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.   

Câu 3. Theo em, nhân vật chính trong văn bản trên là ai? Nhân vật ấy được mô tả với những nét tính cách nào?  

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết hoang đường, kì ảo trong truyện và nêu tác dụng của chi tiết ấy.

Câu 5. Phát biểu ý nghĩa của văn bản trên và rút ra bài học cho bản thân. (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
18 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì (truyện tự sự trung đại), trích Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

Câu 2.

Ngôi kể thứ ba.

Câu 3.

Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.

Tính cách: tàn ác, dâm cuồng, tham lam, coi thường đạo lí và lời khuyên, biết luật nhân quả nhưng vẫn cố tình làm ác.

Câu 4.

Chi tiết hoang đường, kì ảo: Thúc Khoản được xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xét tội các linh hồn và hình phạt ở cõi âm.

Tác dụng: tăng sức hấp dẫn cho truyện, khắc sâu tư tưởng nhân quả – thiện ác báo ứng, răn đe con người.

Câu 5.

Văn bản khẳng định đạo trời công bằng, gieo nhân nào gặt quả nấy; kẻ làm ác dù thoát tội lúc sống cũng không tránh khỏi trừng phạt. Truyện phê phán những kẻ cố chấp, bất nhân và đề cao lối sống hướng thiện. Bài học rút ra: mỗi người cần sống có đạo đức, biết kiềm chế dục vọng, làm việc thiện, tránh làm điều ác để không tự chuốc lấy hậu quả đau khổ cho bản thân và người khác.

18 tháng 12 2025

1.văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì

2. Ngôi thứ ba

3. NV chính : lý hữu chí

+ Đặc điểm: dữ tợn ,tham lam,độc ác, ích kỉ,bạo ngược, coi thường đạo lý

4.chi tiết : thúc khoán xuống minh ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn

Tác dụng: tăng tính hấp dẫn

5 truyện phê phán về cách sống độc ác ích kỉ gieo nhân nào gặp quả đấy, là lời răn dậy về việc sống lương thiện, sẻ chia và vì cộng đồng

GN
GV Ngữ Văn
Giáo viên
6 tháng 3 2019

Câu nói thứ nhất cho thấy 2 thông tin: Độ tuổi của tôi và suy nghĩ của tôi. Khi "tôi" còn trẻ, tôi nóng vội, ngạo nghễ, khát khao được khẳng định mình nên đã "cho mình là nhất" và khẳng định "Tôi và Mô-da" - có nghĩa là tôi đứng trước, có thể tài giỏi hơn Mô-da.

Câu nói thứ hai tương tự, "tôi" khi 30 tuổi, khi đã có độ từng trải nhất định thì am hiểu và biết khiêm tốn hơn. Nhưng vẫn có gì đó ngạo nghễ, nên đã đặt mình ngang hàng với Mô-da.

Câu nói thứ ba "Chỉ còn Mô-da" được khẳng định khi "tôi" đã 40 tuổi. Điều đó cho thấy, khi có độ từng trải và suy nghĩ chín chắn hơn, "tôi" nhận ra rằng không ai có thể vĩ đại và vượt qua Mô-da.

=> Câu nói của nhạc sĩ đưa ra là cái nhìn xuyên suốt qua ba chặng đường đời của một người từ năm 20 tuổi đến năm 40 tuổi. Thời gian là phép thử, đồng thời cũng là môi trường tốt nhất để con người khẳng định mình và tìm ra chân lí. Bài học mà ta nhận được qua câu nói trên đó là: hãy cứ sống hết mình, sống tự tin lạc quan như thế khi còn trẻ tuổi nhưng đồng thời cũng phải biết khiêm tốn để có thể rút ra những triết lí, hoàn thiện bản thân.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: QUÊ HƯƠNG (Trích) Quê hương là một tiếng veLời ru của mẹ trưa hè à ơi Dòng sông con nước đầy vơiQuê hương là một góc trời tuổi thơ Quê hương ngày ấy như mơTôi là cậu bé dại khờ đáng yêu Quê hương là tiếng sáo diềuLà cánh cò trắng chiều chiều chân đê Quê hương là phiên chợ quêChợ trưa mong mẹ mang về...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

QUÊ HƯƠNG
(Trích)

Quê hương là một tiếng ve
Lời ru của mẹ trưa hè à ơi
Dòng sông con nước đầy vơi
Quê hương là một góc trời tuổi thơ

Quê hương ngày ấy như mơ
Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu
Quê hương là tiếng sáo diều
Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

Quê hương là phiên chợ quê
Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa
Quê hương là một tiếng gà
Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

Quê hương là cánh đồng vàng
Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều
Quê hương là dáng mẹ yêu
Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

Quê hương nhắc tới nhớ ghê
Ai đi xa cũng mong về chốn xưa
Quê hương là những cơn mưa
Quê hương là những hàng dừa ven kinh

Quê hương mang nặng nghĩa tình
Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời
Quê hương ta đó là nơi
Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

(Nguyễn Đình Huân

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "".

Câu 3. Em có nhận xét gì về ước mơ của những người lính được thể hiện trong những dòng thơ dưới đây?

"chừng nào thật hoà bình
ra lộ bốn trải ni-lông nằm một đêm cho thoả thích"

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
17 tháng 9 2025

Câu 1.
Văn bản “Quê hương” được viết theo thể thơ tự do. Đây là thể thơ không bị gò bó về số chữ, số câu hay vần điệu, nhịp điệu linh hoạt. Nhờ đó, tác giả có thể thoải mái bộc lộ cảm xúc về quê hương bằng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi.

Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết”tình cảm gia đình, tình bạn và những ước mơ hồn nhiên, giản dị của tuổi thơ trong ngày Tết. Tác giả đã khắc họa tình cảm ấm áp, sự quan tâm của các thành viên trong gia đình và bạn bè dành cho nhau, đồng thời gửi gắm những ước mơ nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa của trẻ thơ.

Câu 3.
Ước mơ của những người lính trong đoạn thơ được thể hiện rất mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng tha thiết. Họ không mong ước điều gì to tát mà chỉ ước một ngày thật hòa bình, có thể thoải mái nằm nghỉ trên con đường rộng mà không lo chiến tranh, bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hòa bình cháy bỏng của những người lính, đồng thời bộc lộ tình yêu tha thiết với cuộc sống bình yên, giản dị – điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại quý giá vô cùng trong chiến tranh.

Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang ý nghĩa quan trọng trong việc khắc họa nhân vật và chủ đề của văn bản. Chiếc áo không chỉ gợi lên ước mơ hồn nhiên, trong sáng của bé gái, mà còn phản ánh khát vọng được yêu thương, được sống trong niềm vui giản dị của trẻ em. Qua chi tiết này, ta thấy được sự ngây thơ, hồn nhiên nhưng cũng rất giàu tình cảm, biết quan tâm và chia sẻ của các nhân vật. Nó góp phần thể hiện tình bạn trong sáng, chân thành, giàu yêu thương – một tình cảm đẹp và đáng trân trọng.

Câu 5.
Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia. Trong cuộc sống, tình bạn thật sự quý giá khi mỗi người biết quan tâm, nhường nhịn và nghĩ cho nhau. Một món quà, một lời động viên hay một sự quan tâm nhỏ bé cũng đủ khiến tình bạn thêm gắn bó và ý nghĩa. Khi ta biết sống vì bạn bè, niềm vui của bạn cũng trở thành niềm vui của chính mình, nỗi buồn của bạn cũng khiến ta trăn trở, cảm thông. Tình bạn đẹp giúp con người sống nhân ái, vị tha hơn, đồng thời trở thành nguồn động lực để vượt qua khó khăn. Nhờ có sự sẻ chia, tình bạn càng trong sáng, bền chặt và trở thành hành trang tinh thần quý giá trong suốt cuộc đời mỗi người.

20 tháng 11 2025

Câu 1. Thể thơ của văn bản

Thể thơ lục bát.


Câu 2. Đề tài của văn bản

Đề tài: Quê hương và những kỉ niệm tuổi thơ gắn bó, thân thương của tác giả với quê nhà.


Câu 3. Nhận xét về ước mơ của những người lính

→ Ước mơ của người lính rất giản dị nhưng tha thiết. Họ không mơ điều lớn lao, chỉ ước “nằm một đêm cho thoả thích” trên con đường bình yên – một điều rất bình thường với người khác nhưng lại vô cùng quý giá đối với người lính đang sống trong bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hoà bình mạnh mẽtâm hồn mộc mạc, giàu tình yêu cuộc sống của họ.


Câu 4. Ý nghĩa chi tiết “chiếc áo đầm hồng”

→ Chiếc áo đầm hồng là chi tiết nổi bật giúp bộc lộ rõ tính cách hai nhân vật.

  • Với bé Bích, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, thích làm đẹp và mong muốn được như các bạn khác.
  • Với bé Em, việc nhường chiếc áo cho bạn cho thấy tấm lòng nhân hậu, biết sẻ chia, không ganh tị, sẵn sàng nghĩ cho người khác.
    Chi tiết này góp phần làm nổi bật tình bạn trong sáng, đồng thời tạo điểm nhấn cảm xúc cho câu chuyện.

Câu 5. Bài học rút ra từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích

→ Câu chuyện cho em hiểu rằng tình bạn đẹp được xây dựng từ sự chân thành và biết quan tâm nhau. Khi ta biết chia sẻ, nhường nhịn và nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt hơn. Mỗi người đều có những thiếu thốn riêng, và sự đồng cảm sẽ giúp chúng ta trở nên tốt hơn, biết trân trọng những điều giản dị trong cuộc sống.

18 tháng 9 2025

đây là bài văn của mình:

Bài thơ Bầm ơi! của Tố Hữu là một khúc tâm tình đầy xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ. Hình ảnh người mẹ – “bầm” – hiện lên với tất cả sự tần tảo, lo lắng và yêu thương dành cho người con đang đi kháng chiến. Tình cảm ấy không chỉ thể hiện qua những câu hỏi đầy thương nhớ mà còn qua nỗi đau thầm lặng khi mẹ chịu đựng sự thiếu vắng con. Người con, dù đang ở nơi chiến trường, vẫn luôn hướng về mẹ với lòng biết ơn và xót xa. Những câu thơ như “Con đi trăm núi nghìn sông / Không bằng một chút tấm lòng của bầm” đã khắc họa sâu sắc sự hy sinh thầm lặng của mẹ, đồng thời thể hiện tình cảm chân thành, tha thiết của người con. Qua đó, bài thơ không chỉ ca ngợi tình mẫu tử mà còn làm nổi bật vẻ đẹp của người mẹ Việt Nam trong thời chiến – giàu đức hy sinh, kiên cường và đầy yêu thương. Tình cảm ấy khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào và trân trọng hơn những người mẹ trong cuộc đời mình.

11 tháng 4

Câu 1:Nhân vật Hữu Chi trong văn bản thể hiện hình ảnh của một người tàn nhẫn, tham lam vô độ và coi thường đạo lý. Trong câu chuyện, Hữu Chi là biểu tượng của lòng tham không đáy, luôn mong muốn vơ vét của cải, quyền lực bằng mọi giá, bất chấp hậu quả. Sự tham lam của ông khiến ông không từ thủ đoạn, sẵn sàng làm hại người khác để đạt được mục đích cá nhân. Hữu Chi còn thể hiện tính ích kỉ, chỉ biết nghĩ cho bản thân mà không quan tâm đến người khác, kể cả những người thân thiết. Chính vì lòng tham vô độ, tham lam của Hữu Chi đã dẫn đến sự trừng phạt đích đáng của số phận, khiến ông phải nhận lấy hậu quả đau đớn, đắng cay. Nhân vật này phản ánh rõ nét về mặt trái của lòng tham, nhấn mạnh rằng tham lam quá mức không chỉ làm hại chính mình mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Qua đó, câu chuyện gửi gắm bài học về sự cần thiết phải kiểm chế lòng tham, sống có đạo đức, trung thực để tránh những bi kịch đau lòng.


Câu 2:Trong "Chuyện Lý tướng quân," nhân vật Hữu Chi là biểu tượng của lòng tham lam vô độ, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Lòng tham chính là một trong những thói xấu tiêu cực nhất trong đời sống, có thể gây ra nhiều tác hại lớn. Tham lam vật chất khiến người ta vơ vét, tranh giành không ngừng, dẫn đến xung đột, bất công và làm xói mòn đạo đức xã hội. Trong học tập, thái độ ích kỉ, gian lận để đạt thành tích cao cũng là biểu hiện của lòng tham, gây ảnh hưởng tiêu cực đến phẩm chất của người trẻ và uy tín của nhà trường. Lòng tham còn làm con người trở nên thiếu trung thực, sống giả dối, mất đi giá trị đạo đức cốt lõi. Chính vì vậy, cần phải nhận thức rõ tác hại của lòng tham để có biện pháp hạn chế, loại bỏ thói xấu này. Trước hết, cần giáo dục đạo đức từ gia đình, nhà trường, nhằm giúp mỗi người biết trân trọng giá trị của lòng trung thực, trung thành và nhân ái. Thứ hai, cần xây dựng môi trường sống trong sạch, công bằng, tạo điều kiện để mọi người phát triển lành mạnh. Cuối cùng, mỗi cá nhân cần tự ý thức rèn luyện bản thân, kiểm soát lòng tham, sống giản dị, biết đủ, góp phần xây dựng xã hội công bằng, văn minh và hạnh phúc. Chỉ khi con người biết kiểm chế lòng tham, cuộc sống mới trở nên tốt đẹp, hòa bình và thịnh vượng hơn.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: (Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

(Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn giữ trọn đạo làm vợ và làm dâu, chăm lo cho chồng ăn học. Học được nửa năm, Tống Trân thi đậu Trạng nguyên, được vua ban áo mão và gả công chúa cho chàng. Tống Trân lấy cớ nhà nghèo mà từ chối. Tống Trân phải trải qua nhiều thử thách hiểm nguy trong thời gian đi sứ nước Tần. Ở quê nhà, Cúc Hoa rơi vào mưu kế của trưởng giả, gả nàng đi cho một người khác. Cùng lúc ấy, Tống Trân trên đường về, biết rõ nguồn cơn và xuất hiện trong ngày rước dâu. Chàng xét xử phân minh rồi đoàn tụ với mẹ và vợ.)

TỐNG TRÂN – CÚC HOA

Mẹ chồng thấy dâu thảo hiền

Đôi hàng nước mắt chảy liền như tuôn.

Khó nghèo có mẹ có con,

Ít nhiều gạn sẻ(1) vẹn tròn cho nhau

Lòng con nhường nhịn bấy lâu

Mẹ ăn cơm ấy ngon đâu hỡi nàng

Cúc Hoa nước mắt hai hàng:

"Lạy mẹ cùng chàng chớ quản(2) tôi

Gọi là cơm tấm canh lê(3)

Mẹ ăn đỡ dạ kẻo khi võ vàng(4)

Chàng ăn cho sống mình chàng,

Dốc lòng kinh sử văn chương đạo là.

Kể chi phận thiếp đàn bà,

Khó nghèo chớ quản nỗi nhà thảm thương".

Thương con mẹ giấu cho vàng,

Bảo rằng gìn giữ để nương tựa mình.

Cúc Hoa trong dạ đinh ninh:

"Lạy mẹ còn có chút tình thương con".

Tức thì trở lại phòng môn,

Cầm tay đánh thức nỉ non bảo chồng:

"Chàng ơi xin tỉnh giấc nồng,

Nay vàng mẹ thiếp cho dùng một chương".

Kể đoạn Cúc Hoa bán vàng,

Bán cho trưởng giả giàu sang hơn người.

Hai bên giá cả hẳn hoi,

Bắc cân định giá được ngoài tám mươi.

Cúc Hoa trở lại thư trai(5)

"Khuyên chàng kinh sử dùi mài cho hay.

Thiếp xin rước một ông thầy,

Để chàng học tập đêm ngày thiếp nuôi".

Một ngày ba bữa chẳng rời,

Nuôi thầy, nuôi mẹ lại nuôi cả chồng.

Nàng thời nhiều ít cũng xong

Đói no chẳng quản miễn chồng làm nên.

Khấn trời lạy Phật đòi phen:

"Chứng minh phù hộ ước nguyền chồng tôi.

Khuyên chàng khuya sớm hôm mai,

Cố chăm việc học đua tài cho hay.

Một mai, có gặp rồng mây(6)

Bảng vàng(7) may dược tỏ bày họ tên

Trước là sạch nợ bút nghiên

Sau là thiếp cũng được yên lòng này".

(Theo bản in của NXB Phổ thông Hà Nội năm 1961,
Bùi Thức Phước sưu tầm và biên soạn, NXB Hội nhà văn, 2012)

Chú thích:

(1) Gạn sẻ: Gạn – chắt lọc và sẻ – chia sớt, chia nhỏ.

(2) Quản: E ngại, ngần ngại. Chớ quản: Không cần ngần ngại, quan tâm.

(3) Canh lê: Canh nấu bằng rau lê, những gia đình nghèo khó thường ăn loại rau này.

(4) Võ vàng: Gầy gò, da dẻ xanh xao, không được hồng hào vì thiếu máu.

(5) Thư trai: Phòng đọc sách, phòng học.

(6) Rồng mây: Hội rồng mây, cơ hội để mọi người thi đậu làm nên danh phận cao sang như rồng gặp mây.

(7) Bảng vàng: Danh sách ghi tên những người thi đỗ.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Có những nhân vật nào xuất hiện trong văn bản?

Câu 3. Trong đoạn trích trên, hoàn cảnh sống của Tống Trân và Cúc Hoa hiện lên như thế nào? Hoàn cảnh sống ấy có vai trò gì trong việc thể hiện số phận nhân vật?

Câu 4. Thông qua mối quan hệ với mẹ chồng, Cúc Hoa có phẩm chất nào đáng quý? Những chi tiết nào giúp em nhận thấy điều đó?

Câu 5. Ước mơ "bảng vàng rồng mây" trong lời khấn nguyện của Cúc Hoa thể hiện mong muốn, khát vọng gì của nhân dân? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

5
16 tháng 9 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm.

16 tháng 9 2025

Câu 2. Nhân vật xuất hiện: Cúc Hoa, Tống Trân, mẹ chồng Cúc Hoa.

16 tháng 9 2025

Câu 1:

Trong Tống Trân - Cúc Hoa, nhân vật Cúc Hoa gây ấn tượng mạnh bởi tấm lòng thủy chung và sự hi sinh dành cho chồng. Vốn là con nhà giàu, nhưng nàng sẵn sàng lấy một chàng trai nghèo khó chỉ vì tình nghĩa. Khi về làm dâu, Cúc Hoa vừa chăm lo mẹ chồng, vừa gánh vác việc nhà, lại còn bán cả vàng để rước thầy dạy học cho chồng. Nàng không chỉ đảm đang mà còn có cái nhìn xa: biết rằng chỉ có con đường học hành mới giúp chồng thoát khỏi nghèo khổ, mới lo được cho mẹ và cho gia đình. Chính sự hi sinh lặng lẽ ấy đã tiếp thêm sức mạnh để Tống Trân đỗ đạt và thành công. Ở Cúc Hoa, ta thấy hiện lên hình ảnh quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam: giàu tình yêu thương, nhẫn nại, và hết lòng vì hạnh phúc gia đình. Nhân vật này khiến ta cảm phục bởi sự thủy chung và ý chí kiên cường, dẫu khó khăn vẫn không hề than vãn.

16 tháng 9 2025

Câu 2:

Ai cũng muốn có một tương lai tốt đẹp, nhưng con đường đi tới thành công chưa bao giờ bằng phẳng. Đọc Tống Trân – Cúc Hoa, ta thấy rõ điều đó: một chàng trai nghèo cùng người vợ hiền đã trải qua vô vàn vất vả, thế nhưng họ không nản chí mà vẫn một lòng hướng về mục tiêu. Nhờ vậy, Tống Trân mới có thể trở thành Trạng nguyên, còn Cúc Hoa được tôn vinh bởi sự thủy chung, hi sinh.

Trong thực tế, khó khăn giống như những “bài kiểm tra” của cuộc đời. Chúng khiến ta mệt mỏi, có lúc muốn bỏ cuộc, nhưng nếu vượt qua được thì bản thân lại trưởng thành, mạnh mẽ hơn rất nhiều. Người dễ dàng bỏ cuộc sẽ mãi dừng chân ở vạch xuất phát, còn người kiên trì lại có cơ hội gặt hái thành công. Câu chuyện của Tống Trân và Cúc Hoa cho ta bài học: muốn đạt được ước mơ thì phải giữ vững niềm tin, không lùi bước trước thử thách.

Để rèn luyện nghị lực, mỗi người có thể bắt đầu từ những việc nhỏ như: đặt mục tiêu học tập rồi kiên trì theo đuổi, tập thói quen không bỏ dở giữa chừng, giữ cho mình một tinh thần lạc quan và tìm sự động viên từ gia đình, bạn bè. Ngoài ra, cũng cần rèn luyện sức khỏe, vì một tinh thần mạnh mẽ luôn cần một thể chất khỏe khoắn.

Nói ngắn gọn, không nản lòng trước khó khăn chính là chìa khóa để chúng ta mở cánh cửa thành công. Người trẻ hôm nay càng cần học cách kiên cường, để mỗi thử thách không làm ta gục ngã mà trở thành bước đệm giúp ta tiến xa hơn.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau. BẦM ƠI! Ai về thăm mẹ quê taChiều nay có đứa con xa nhớ thầm... Bầm ơi có rét không bầm?Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm runChân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đonRuột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thânMưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

BẦM ƠI!

Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm...

Bầm ơi có rét không bầm?
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều
Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

(Trích Bầm ơi – Tố Hữu, Việt Bắc, NXB Văn học, 1962)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Văn bản trên viết về đề tài gì?

Câu 3. Hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào qua những dòng thơ: "Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non", "Mưa phùn ướt áo tứ thân"?

Câu 4. Qua hai dòng thơ cuối: "Con đi đánh giặc mười năm / Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi", em hiểu gì về tình cảm và sự thấu hiểu mà người con dành cho mẹ của mình?

Câu 5. Từ văn bản, em có suy nghĩ gì về vai trò của tình mẫu tử trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn 5 – 7 dòng)

2
18 tháng 9 2025

Câu 1.
Trả lời: Văn bản được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2
Trả lời: Văn bản viết về tình yêu thương và công lao vĩ đại của mẹ, thể hiện qua hình ảnh bàn tay mẹ chăm sóc, bảo vệ và ru con.

Câu 3 là gì b

29 tháng 4

chị viết chi tiết thêm tí nữa là em hiểu liền [ko có ý định gì đâu chỉ là chưa hiểu thôi ]

17 tháng 9 2025

câu 1

Người phụ nữ Việt Nam luôn là nguồn cảm hứng dạt dào và xuyên suốt của các nhà thơ, đặc biệt là trong thơ Tố Hữu. Là một nhà thơ cách mạng nên khi viết về người phụ nữ, Tố Hữu vừa tuyên truyền, cổ vũ tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân, vừa tái hiện những năm tháng kháng chiến gian lao mà hào hùng, vẻ vang của dân tộc và ca ngợi những phẩm chất cao đẹp cũng như khắc ghi công lao to lớn của người phụ nữ đối với cách mạng, với đất nước. Hình ảnh người phụ nữ trong thơ Tố Hữu thấm đượm vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam với những phẩm chất cao quý như nhân hậu, đảm đang, giàu lòng yêu nước nhưng đồng thời tâm hồn họ vẫn được thổi vào luồng gió của thời đại, đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng và lý tưởng cộng sản. Người mẹ trong bài thơ “Bà má Hậu Giang” được xây dựng là hình mẫu điển hình cho người phụ nữ yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp với sự hội tụ của nhiều phẩm chất đáng quý: kiên cường, dũng cảm, hi sinh âm thầm lặng lẽ vì quê hương, đất nước,…Hình ảnh “Bà má Hậu Giang” – người mẹ với lòng kiên trung đã nuôi giấu cán bộ, bất chấp hiểm nguy, là hình ảnh nói lên ý chí, niềm tin của đồng bào Nam Bộ sau Khởi nghĩa Nam Kỳ. Lời nói đanh thép của má “Má có chết, một mình má chết”/ “Các con ơi! Má quyết không khai nào!” khiến người đọc nhận ra dù bị tra tấn dã man, má sẵn sàng “ chết một mình” để “ các con trừ hết quân Tây!”, yên tâm chiến đấu. Chi tiết tiếng hét của má “ Tụi bay đồ chó!…” thể hiện rõ nét lòng căm thù giặc sâu sắc, sẵn sàng đối mặt với kẻ thù, không sợ hi sinh, một lòng một dạ trung thành với cách mạng. Sự phẫn uất tột cùng của má trước kẻ thù độc ác, tàn bạo “chúng cướp nước, cắt cổ dân” càng lấp đầy lòng tin của má về những người chiến sĩ cộng sản. Trong những năm tháng khắc khổ gian lao, má vẫn tin tưởng vào các con – những chiến sĩ cộng sản kiên cường “tao già, không cầm được dao / giết bay đã có các con tao”…Hình ảnh bà mẹ một mình bám trụ với mảnh đất chết, “lom khom đi lượm củi khô” nấu cơm cho du kích… đã khắc sâu trong tâm trí của người đọc về sự kiên cường, bản lĩnh đầy nghị lực của má, phẩm chất cao quí. Sự hi sinh thầm lặng của má đã góp phần quan trọng vào thắng lợi trong công cuộc kháng chiến cứu nước gian lao. Sử dụng thể thơ song thất lục bát, có sự kết hợp giữa tự sự, trữ tình và bình luận làm cho giọng điệu vừa cứng cỏi và pha lẫn xót thương….Cách xưng hô “má” thể hiện thái độ kính trọng của nhà thơ nhưng cũng rất thân thiết, gắn bó như ruột thịt. Khắc họa thành công vẻ đẹp của bà má Hậu Giang – một hình ảnh tiêu biểu cho bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhà thơ đã thể hiện thái độ trân trọng, ngưỡng mộ, nể phục, tự hào và biết ơn sâu sắc.



Câu 1

Trong văn bản “Bà má Hậu Giang”, hình ảnh bà má hiện lên như biểu tượng đẹp đẽ của người mẹ Nam Bộ trong những năm tháng chiến tranh gian khổ. Bà là người phụ nữ nông dân bình dị nhưng mang trong mình tấm lòng yêu nước sâu sắc và tinh thần cách mạng kiên cường. Dù cuộc sống thiếu thốn, hiểm nguy luôn rình rập, bà má vẫn một lòng che chở, nuôi giấu cán bộ, coi việc bảo vệ cách mạng như trách nhiệm thiêng liêng của mình.Ở bà má, tình yêu thương con người hòa quyện với lòng yêu nước nồng nàn. Bà sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân, chịu đựng mất mát, đau thương để góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Không những thế, bà còn là người giàu đức hi sinh, luôn động viên, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho những người chiến sĩ. Nhân vật bà má Hậu Giang đã khắc họa vẻ đẹp cao quý của người phụ nữ Việt Nam: mộc mạc mà anh hùng, giản dị mà vĩ đại, góp phần làm sáng ngời truyền thống yêu nước của dân tộc ta.

Câu 2

Giới trẻ là lực lượng nòng cốt, là tương lai của đất nước. Họ mang trong mình sức trẻ, lòng nhiệt huyết và khát khao cống hiến. Chính vì vậy, trách nhiệm của giới trẻ trong việc xây dựng và phát triển đất nước là vô cùng quan trọng. Nếu không nhận thức được trách nhiệm này và hành động một cách kịp thời, hiệu quả, chúng ta sẽ bỏ lỡ những cơ hội quý báu để đưa đất nước đi lên. Trách nhiệm của giới trẻ trong việc xây dựng đất nước là nghĩa vụ, bổn phận mà mỗi cá nhân trẻ tuổi cần nhận thức và thực hiện để đóng góp vào sự phát triển chung của cộng đồng và quốc gia. Điều này bao gồm việc học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tham gia các hoạt động xã hội, cống hiến tài năng và trí tuệ cho đất nước. Hiện nay, phần lớn giới trẻ Việt Nam đã nhận thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Họ tích cực học tập, tham gia các hoạt động tình nguyện, khởi nghiệp và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận giới trẻ sống thiếu lý tưởng, sống thực dụng, ích kỷ và chưa có những hành động thiết thực để đóng góp cho cộng đồng. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê năm 2022, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm tuổi 15-24 là 6,36%, cao gấp 2,4 lần so với tỷ lệ thất nghiệp chung. Điều này cho thấy một bộ phận giới trẻ vẫn chưa tìm được hướng đi đúng đắn cho bản thân, chưa phát huy được hết tiềm năng của mình để đóng góp cho xã hội. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Một số nguyên nhân chính có thể kể đến như chưa định hướng được nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích của bản thân, thiếu kỹ năng mềm cần thiết cho công việc và cuộc sống, ảnh hưởng từ môi trường sống thiếu lành mạnh, lối sống thực dụng, chạy theo vật chất, thiếu sự quan tâm, định hướng từ gia đình và xã hội. Nếu vấn đề này không được giải quyết kịp thời, nó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cả cá nhân và xã hội. Cá nhân mất cơ hội phát triển bản thân, lãng phí tài năng, dễ sa vào các tệ nạn xã hội. Xã hội thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, một số người cho rằng giới trẻ ngày nay quá thụ động, chỉ biết hưởng thụ và không quan tâm đến việc xây dựng đất nước. Tuy nhiên, đây chỉ là một phần nhỏ và không phản ánh đúng thực trạng chung. Thực tế, có rất nhiều bạn trẻ năng động, sáng tạo và có nhiều đóng góp tích cực cho cộng đồng. Để có thể trở thành những người trẻ có ích, đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước, trước hết, mỗi học sinh cần trau dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng, không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi từ nhiều nguồn khác nhau như sách vở, thư viện, internet hay các khóa học trực tuyến. Bên cạnh đó, các bạn cũng có thể tham gia các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ để phát triển toàn diện. Kiến thức và kỹ năng là nền tảng quan trọng để mỗi người có thể đóng góp cho xã hội. Học sinh cần trang bị cho mình một nền tảng kiến thức vững chắc, kỹ năng toàn diện để sau này trở thành những công dân có ích, đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Thực tế, nhiều học sinh Việt Nam đã đạt được thành tích cao trong các kỳ thi quốc tế, chứng tỏ sự nỗ lực học tập không ngừng và khả năng cạnh tranh của học sinh Việt Nam trên trường quốc tế.

Là một học sinh, em luôn ý thức được trách nhiệm của mình trong việc học tập và rèn luyện để trở thành một công dân có ích cho xã hội. Em tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Em tin rằng mỗi hành động nhỏ bé của mình cũng sẽ góp phần làm cho đất nước ngày càng giàu đẹp hơn. Trách nhiệm của giới trẻ trong việc xây dựng đất nước là rất lớn lao và quan trọng. Mỗi chúng ta cần nhận thức rõ vai trò của mình, không ngừng phấn đấu, học tập và rèn luyện để trở thành những công dân ưu tú, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hãy luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.