Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Bài thơ trước hết sâu sắc hơn cả vẫn là những câu thơ thể hiện niềm yêu quý thiết tha và nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với quê hương, đồng bào
- Trong nỗi hiu quạnh của những buổi trưa thương nhớ, Tố Hữu trở về với những điều thân thuộc
+ Ruồng tre mát thơ
+ Ô mạ xanh mơn mởn
+ Nương khoai sắn ngọt bùi
- Trở về trong tâm tưởng với cảnh quê, Tố Hữu với những “xóm nhà tranh” những con người “lưng cong xuống luống cày/ mà bùn hi vọng nức hương ngây”
→ Đồng quê được hình dung rõ ràng, cụ thể bằng đường nét, hình ảnh, màu sắc, âm thanh, hương vị...
- Âm điệu như tiếng than về nỗi quạnh hiu, cùng cực người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời
- Những hình ảnh “trăng” và “cột chỉ đường”: diễn tả không gian hun hút, quạnh quẽ.
- Âm thanh “tiếng lục lạc” và “kim đồng hồ kêu tích tắc” diễn tả âm thanh lục lạc đơn điệu buồn tẻ, tiếng đồng hồ kêu tích tắc như một kỉ vật nhắc nhở bao hoài niệm thương yêu.
⇒ Hình ảnh và âm thanh khiến cảnh vật hiện ra mơ màng và xúc động. Trong không gian như vậy, nhân vật trữ tình không chỉ buồn mà còn mệt mỏi mà còn nghĩ về mái ấm gia đình hạnh phúc, khát khao và hi vọng gặp người thương. Niềm khao khát ấy khiến cho nhân vật trữ tình không những xúc động mà càng tha thiết với thiên nhiên, cuộc sống và cái đẹp hơn.
Đoạn thơ trên gắn liền hình ảnh của dòng sông Đáy với hình ảnh người mẹ, những vết thương lòng đau đớn trong quá khứ và tình cảm gia đình. Các ý nghĩa phân tích thuật thuật của bài thơ:
Từ ngữ: Bài thơ sử dụng một ngôn ngữ khá tế nhị, đơn giản, lấy cảm hứng từ đời sống bình dân để miêu tả hình ảnh của dòng sông và người mẹ.
Hình ảnh: Các hình ảnh được sử dụng trong bài thơ bao gồm: gió giật, sông chảy, mẹ trong nước mắt, mỏm đất, khói bụi, cánh đồng, khói thơm, máu tổ tiên, hoa gạo, chiều không khói bếp, vết đắm, sông đau. Trong đó, hình ảnh của sông Đáy được nhắc đến nhiều lần và đóng vai trò chính trong bài thơ, tạo nên một bối cảnh quen thuộc cho con người.
Biện pháp tu từ: Bài thơ sử dụng nhiều biện pháp tu từ như lặp, điệp ngữ, ẩn dụ...Ví dụ như "Sông Đáy râm lên bao nhăn nheo/Khi cái rét tràn về tuổi thơ tôi", "Máu của tổ tiên là kết ngọc đáy sông"...
Giọng thơ: Bài thơ mang nhiều xúc cảm đau thương, chân thành, như đa phần tác phẩm của những nhà thơ miền Trung. Có những chi tiết chân thật về cuộc đời sống vùng quê và con người, tạo nên một bức tranh sinh động, tràn đầy sức sống.
Đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu của đoạn thơ:
+ Hình ảnh trong đoạn thơ thứ ba gần gũi, quen thuộc, tươi mới, giàu sức sống, đầy tính quyến rũ, tình tứ nhưng cũng mới mẻ, đột phá
+ Ngôn ngữ gần với ngôn từ đời thường, được nâng lên tầng nghệ thuật
+ Cảm xúc chân thành, dạt dào, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn từ đan vào nhau, vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến.
+ Sử dụng nhiều động từ mạnh, tăng tiến, chỉ sự đắm say mãnh liệt, nồng cháy, cộng với những danh từ chỉ vẻ đẹp của tuổi trẻ; nhiều tính từ chỉ xuân sắc
+ Nhịp điệu thơ sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.
Trong bài thơ "Việt Bắc", đặc biệt ở đoạn thơ "Nhớ gì như nhớ người yêu... nhớ đồng", Tố Hữu đã dệt nên một thế giới cảm xúc nhớ thương da diết bằng những hình ảnh giàu sức gợi. Hình ảnh “mặt người” thấp thoáng trong “ánh trăng”, “rừng núi” vang vọng “tiếng hát ân tình thuỷ chung” không chỉ thể hiện nỗi nhớ mà còn gợi lên mối giao hoà giữa con người và thiên nhiên Việt Bắc. Đặc biệt, chi tiết “nhớ đồng” – tuy mộc mạc – lại chứa đựng nỗi niềm sâu sắc: nhớ cánh đồng kháng chiến gian lao, nơi gắn bó máu thịt giữa quân dân. Những hình ảnh ấy hòa quyện vào nhau, tạo nên một không gian nghệ thuật tràn đầy cảm xúc – nơi nỗi nhớ không chỉ hướng về cảnh vật mà còn về nghĩa tình, về lòng thuỷ chung son sắt của người ra đi với mảnh đất cách mạng. Chính điều đó làm nên chất trữ tình cách mạng rất riêng trong thơ Tố Hữu
Bài thơ “Nhớ đồng” của Tố Hữu là tiếng lòng tha thiết của người chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nhưng trái tim vẫn hướng về quê hương và tự do. Thế giới cảm xúc “nhớ đồng” được dệt nên từ những hình ảnh dân dã, đậm hồn quê: “gió đưa cành trúc la đà”, “con trâu đằm bóng”, “mùi rơm rạ”, “tiếng sáo diều vi vu”… Mỗi chi tiết như một nét chấm mềm mại gợi lên bức tranh đồng quê thanh bình, ấm áp tình người, nơi chất chứa bao kỷ niệm thân thương. Từ nỗi nhớ cảnh vật, nhà thơ hướng đến nỗi nhớ con người, nhớ cuộc sống lao động tự do, để rồi khát vọng được trở về với đồng ruộng, với cách mạng càng trở nên mãnh liệt. Giữa ngục tù tối tăm, hình ảnh đồng quê đã sưởi ấm tâm hồn người chiến sĩ, biến nỗi nhớ thành sức mạnh tinh thần, niềm tin vào ngày mai tươi sáng của đất nước
Bài thơ vừa tả cảnh, vừa gợi được nhịp sống, không khí ở nông thôn nước ta thời trước, sự yên bình:
+ Con đò nằm biếng lười, quán vắng, cánh bướm rập rờn, đàn trâu thong thả có dáng khoan thai
+ Hai câu thơ cuối có hình ảnh con người xuất hiện
- Khoảnh khắc lao động của người thiếu nữ đi vào thơ
+ Cô thôn nữ chăm chỉ trong buổi chiều tĩnh lặng.
+ Câu thơ tả động nhưng để nói về cái tĩnh
+ Cái tĩnh để nhằm nhấn mạnh vào nhịp sống yên bình của vùng quê còn nguyên sơ