Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Em đồng ý với quan điểm trên. Câu nói cuối cùng của Chí Phèo chính là lời tố cáo xã hội phong kiến tàn bạo bởi:
- Chí Phèo vốn là một người nông dân hiền lành chăm chỉ nhưng lại bị hãm hại rồi trở thành con quỷ người người căm ghét chính là gián tiếp do bàn tay của Bá Kiến và là hậu quả trực tiếp của lao tù thực dân.
- Chí muốn làm người lương thiện nhưng xã hội lại dồn hắn vào đường cùng. Chỉ tha thiết có một hạnh phúc giản đơn mà tất cả đều bị dập tắt mất bởi chính những định kiến của xã hội lúc bấy giờ. Hắn đánh mất tất cả chính là do hoàn cảnh xã hội đẩy hắn vào đường cùng.
- Nhưng câu nói trên cũng thể hiện khát vọng của Chí. Hắn đến chết vẫn muốn làm người lương thiện, được xã hội thừa nhận là một phần trong đó. Khát vọng lương thiện tưởng chừng rất đơn giản nhưng với Chí lại không thể làm được. Hắn đã gây ra quá nhiều tội lỗi như vết chai trên mặt hắn sẽ không bao giờ biến mất => sự bế tắc tột cùng của một tâm hồn tội lỗi.
- Suy đoán vấn đề xã hội được người viết đưa ra bàn luận:
- Hệ thống luận điểm của bài viết:
- Lí lẽ, dẫn chứng và cách lập luận để hiểu rõ mục đích, quan điểm của người viết và nét đặc sắc của hình thức trình bày:
- Thấy ý nghĩa và tác động của vấn đề đặt ra trong văn bản đối với bản thân.
- Những bài viết về bản sắc dân tộc và yêu cầu hội nhập quốc tế.
- Ý nghĩa của vấn đề mà văn bản nghị luận trên đã nêu lên: Nhắc nhở, kêu gọi mỗi cá nhân có ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc, không để những cái mới, sự hiện đại, hội nhập làm mất đi vẻ đẹp vốn có của truyền thống, dân tộc.
Bài thơ "Giàn Hỏa" của Chế Lan Viên và nhận định của Nguyễn Đình Thi về "Nghệ thuật đốt lửa trong lòng chúng ta" đều xoay quanh sức mạnh lay động, khơi nguồn cảm hứng và thay đổi nhận thức của con người thông qua nghệ thuật.
Chế Lan Viên, một nhà thơ tiêu biểu của giai đoạn Thơ mới và sau này là thơ ca cách mạng Việt Nam, nổi tiếng với việc sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu tượng và mang tính triết lý. Trong bài thơ "Giàn Hỏa", câu thơ "Ngồi lên chất liệu đời mình / Rót vào đấy xăng của thời đại / Rồi lấy mình làm lửa châm vào" đã khắc họa một cách mạnh mẽ quá trình sáng tạo nghệ thuật đầy tâm huyết và dũng cảm. "Chất liệu đời mình" là những trải nghiệm, suy tư cá nhân, còn "xăng của thời đại" là những vấn đề, biến động xã hội, là những yếu tố thôi thúc người nghệ sĩ hành động. Sự kết hợp này tạo nên "lửa" - một biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, sự bùng cháy, và khả năng lan tỏa. Bài thơ không chỉ dừng lại ở việc cháy mà còn "đến tro tàn từng chữ cũng thiêng liêng", cho thấy sức ảnh hưởng sâu sắc, vượt lên trên những hình thức câu chữ thông thường. "Lửa đa nghĩa, phóng ra ánh sáng hào quang bốn phía" thể hiện vai trò soi đường, dẫn lối, mang lại sự khai sáng và vẻ đẹp cho cuộc đời.
Nguyễn Đình Thi, một nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ có tầm ảnh hưởng lớn trong văn học Việt Nam hiện đại, trong tiểu luận "Tiếng nói Văn nghệ" đã khẳng định: "Nghệ thuật đốt lửa trong lòng chúng ta". Nhận định này nhấn mạnh vai trò kích thích, khơi dậy những tiềm năng ẩn giấu, những khát vọng, lý tưởng trong con người. Nghệ thuật không chỉ là sự phản ánh mà còn là động lực, là nguồn năng lượng tích cực giúp con người vượt qua giới hạn, vươn lên.
Khi xem xét hai nhận định này cùng với bài thơ "Những câu thơ viết đợi mặt trời" của Hoàng Nhuận Cầm, chúng ta có thể thấy sự tương đồng trong quan niệm về sức mạnh của thi ca. Bài thơ của Hoàng Nhuận Cầm, với hình ảnh "đợi mặt trời", có thể hiểu là sự chờ đợi một tương lai tươi sáng, một sự khai sáng, hoặc một sức mạnh lớn lao nào đó. "Lửa" trong thơ Chế Lan Viên và "đốt lửa" trong nhận định của Nguyễn Đình Thi chính là những yếu tố có thể châm ngòi cho sự chờ đợi đó, thắp lên hy vọng, thôi thúc hành động để đón lấy "mặt trời".
Từ trải nghiệm văn học cá nhân, có thể thấy rằng những bài thơ hay, những tác phẩm nghệ thuật có giá trị đích thực luôn có khả năng "đốt lửa" trong tâm hồn người đọc. Chúng khơi gợi những cảm xúc mãnh liệt, thức tỉnh những suy tư sâu sắc, và đôi khi, thay đổi cả cách chúng ta nhìn nhận thế giới. Ví dụ, khi đọc những bài thơ về tình yêu quê hương đất nước, ta cảm thấy lòng mình dâng trào niềm tự hào, ý thức trách nhiệm. Khi đọc những câu thơ nói về sự hy sinh, mất mát, ta có thể cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của hòa bình, của cuộc sống. Khả năng "đốt lửa" này không chỉ nằm ở ngôn từ hoa mỹ hay cấu trúc bài thơ độc đáo, mà còn ở chiều sâu tư tưởng, ở sự chân thành và rung động của người nghệ sĩ khi gửi gắm tâm hồn mình vào tác phẩm. Chính sự rung động ấy sẽ lan tỏa, chạm đến trái tim người đọc, thắp lên ngọn lửa trong chính họ, giúp họ nhìn nhận cuộc đời, hành động và suy nghĩ một cách tích cực, ý nghĩa hơn.
Tóm lại, cả hai nhận định và bài thơ được đề cập đều làm nổi bật vai trò quan trọng của nghệ thuật trong việc khơi dậy và nuôi dưỡng những giá trị tinh thần, cảm xúc, và tư tưởng cho con người. Nghệ thuật, bằng sức mạnh "đốt lửa" của mình, có khả năng làm cho tâm hồn người đọc trở nên phong phú, mạnh mẽ và hướng thiện hơn, góp phần tạo nên một đời sống tinh thần lành mạnh và ý nghĩa.
Tham Khảo ạ !!
1. Mở bài
Mỗi chúng ta là một bản thể sống, sinh ra trong cuộc đời là điều vô cùng may mắn và cuộc đời mình có giá trị hay không là ở chính chúng mình.
2. Thân bài
- Các phương diện biểu hiện giá trị con người:
+ Thể hiện ở nhân cách, thông qua hành động.
+ Giá trị mỗi người cũng không phải nằm ở ngoại hình.
+ Giá trị con người không thể hiện qua chức vụ hay nghề nghiệp
+ Giá trị còn người là ở ý chí, ở nghị lực và tinh thần hướng thiện, hướng đến những điều tốt đẹp cho chính bản thân họ và cho cuộc sống xung quanh.
- Mở rộng vấn đề: Phê phán những biểu hiện tự ti, lối sống mặc cảm, sống trong vỏ bọc
- Bài học để khẳng định giá trị bản thân
+ Phải phấn đấu mỗi ngày, mỗi ngày phải không ngừng nỗ lực để khẳng định mình
+ Đừng tự đánh mất giá trị bản thân.
3. Kết bài
Giá trị còn người cũng cần được tôn trọng. Mỗi người phải tự nắm bắt lấy những có hội để phát triển mình, từng bước khẳng định giá trị mình, không cần là một bông hoa kiêu sa lộng lẫy chỉ cần là một bông hoa dại ngát hương điểm tô cho đời rực rỡ xanh tươi.
Các bước | Kiểu bài Báo cáo kết quả nghiên cứu một vấn đề | Kiểu bài Nghị luận về một vấn đề xã hội |
Bước 1: Chuẩn bị viết | Xác định đề tài nghiên cứu. Đề tài phải có tín thiết thực, phù hợp. | Chọn đề tài mà bản thân thấy quen thuộc, hứng thú, có những ý kiến khác biệt |
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý | Chia thành các đề mục, bố cục rõ ràng | Cần có luận điểm, dẫn chứng lý lẽ. Bố cục cần được sắp xếp cho phù hợp |
Bước 3: Viết bài | - Nhan đề ngắn gọn, xúc tích, có nội dung và từ khóa. - Có phần tóm tắt. - Sử dụng ngôn ngữ khách quan, không dùng ngôn ngữ địa phương. | - Triển khai ý thành đoạn, thành bài (mỗi đoạn tương ứng với một luận điểm). - Có từ ngữ liên kết. |
Bước 4: Xem lại chỉnh sửa | Chỉnh sử phải theo đúng logic, thứ tự. | Luận điểm,dẫn chúng rõ ràng. Sắp xếp phải hơp lý |
Phương pháp giải:
- Học sinh chọn một trong hai đề.
- Đọc lại yêu cầu đối với kiểu bài trong hai đề.
- Lập dàn ý.
Lời giải chi tiết:
Đề a
1. Mở bài
Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và nội dung chính của bài viết: Thiên nhiên và con người trong Cảnh khuya (Hồ Chí Minh).
2. Thân bài
Giới thiệu và trích dẫn lần lượt các câu thơ để phân tích, đánh giá.
- Hai câu thơ đầu tiên: miêu tả bức tranh thiên nhiên tươi đẹp.
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
+ Hình ảnh “tiếng suối”: Vào ban đêm, chỉ với ánh trăng mà nhà thơ cũng có thể thấy được sự trong veo của nước suối.
+ Ánh trăng đêm quả thật rất đẹp, rất sáng. Ánh trăng còn nổi bật hơn ở hình ảnh “trăng lồng cổ thụ” ánh trăng sáng bao quát cả một cây đại thụ lớn kết hợp với tiếng tiếng suối thanh trong như điệu nhạc êm, hát mãi không ngừng.
+ Biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa
=> Hình ảnh ánh trăng làm bừng sáng thiên nhiên nơi chiến khi Việt Bắc. Một không gian thiên nhiên huyền ảo vừa có ánh sáng, vừa có âm thanh.
- Câu thơ thứ 3: Khắc họa hình ảnh nhân vật trữ tình.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ
+ Cảnh đêm trăng tuyệt đẹp như bức họa thế kia thì làm sao mà ngủ được. Phải chăng Người đang thao thức về một đêm trăng sáng với âm thanh vang vọng trong trẻo của núi rừng.
+ Biện pháp tu từ: So sánh.
- Câu thơ thứ 4: Bài thơ kết thúc bằng một lời giải thích ngắn gọn, thẳng thắn nhưng lại rất đáng quý và trân trọng.
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
+ Câu thơ cuối càng làm nổi rõ hơn nguyên nhân không ngủ được của Bác đó là “lo nỗi nước nhà”
+ Sự độc đáo của thơ Hồ Chí Minh là bài thơ kết thúc với một lời giải thích, vô cùng thẳng thắn và ngắn gọn nhưng cũng rất đáng quý trọng. à chân thực, giản dị.
3. Kết bài
Khẳng định lại giá trị của chủ đề.
Đề b
1. Mở bài
Nêu vấn đề xã hội cần nghị luận: Tầm quan trọng của động cơ học tập
2. Thân bài
a. Thế nào là động cơ học tập?
Từ khái niệm động cơ để làm rõ khái niệm về động cơ học tập.
+ Theo J. Piaget, “Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó”.
+ Theo Phan Trọng Ngọ, “Động cơ học tập là cái mà việc học của họ phải đạt được để thỏa mãn nhu cầu của mình. Nói ngắn gọn, học viên học cái gì thì đó là động cơ học tập của học viên”.
b. Động cơ học tập được hình thành như thế nào?
- Được hình thành dần dần trong quá trình học tạp của học sinh.
- Có thể chia làm hai loại: động cơ bên ngoài (động cơ xã hội) và động cơ bên trong (động cơ hoàn thiện tri thức).
c. Tầm quan trọng của động cơ học tập
Động cơ học tập đúng đắn sẽ kích thích tinh thần học hỏi của học sinh. Từ đó nâng cao hiệu quả và kết quả của việc học.
d. Cần làm gì để kích thích động cơ học tập của học sinh
- Mỗi học sinh cần ý thức được tầm quan trọng của việc học, cần có mục tiêu rõ ràng (Đặt câu hỏi “Học để làm gì?”), có phương pháp học tập đúng đắn.
- Việc hỗ trợ của phụ huynh và giáo viên cũng rất cần thiết. Cha mẹ cần giải thích rõ cho con hiểu về lợi ích của việc học và tác hại nếu như con người không có tri thức để tạo một động cơ học tập tích cực cho con.
- Giáo viên hãy tăng hứng thú trong mỗi giờ học bằng lối giảng truyền cảm, đôi khi pha chút thú vị, thường xuyên thay đổi phương pháp dạy để học sinh tìm kiếm được những điều mới lạ trong những trang sách.
3. Kết bài
Khẳng định tầm quan trọng của động cơ học tập.
Đề a:
Nghị luận đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Cảnh khuya
+ Mở bài
Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn của đất nước. Bài thơ Cảnh khuya là một trong những tác phẩm thơ tiêu biểu của Người.Tác phẩm nổi bật với thể thất ngôn bát cú và cách sử dụng biện pháp nghệ thuật tài tình
+ Thân bài
Cảnh đẹp của đêm trăng nơi núi rừng Việt Bắc;
- Âm thanh: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa’’. Biện pháp so sánh, âm thanh của thiên nhiên được so sánh với âm thanh tiếng hát du dương, tha thiết. Qua đó gợi cho người đọc một liên tưởng, tiếng suối có sức sống như con người
- Hình ảnh: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”. Điệp từ “lồng” làm cho bức tranh thiên nhiên có nhiều tầng lớp, đường nét, hình khối. Tạo nên vẻ đẹp lung linh, huyền ảo, ấm áp hòa hợp quấn quýt do âm hưởng của từ lồng
Tâm trạng của Người
- Điệp ngữ “chưa ngủ” mở ra hai nét tâm trạng của tác giả
- Chưa ngủ vì cảnh đẹp, thể hiện được chất thi sĩ trong con người của Bác; chưa ngủ vì lo lắng cho tương lai, cho vận mệnh của đất nước, đây lại là tinh thần của một con người yêu nước, một chiến sĩ cách mạng thực thụ.
+ Kết bài
Khái quát về giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của bài thơ: Thể hiện sống động bức tranh thiên nhiên trong đêm khuya ở núi rừng Việt Bắc, đồng thời phác họa thành công bức chân dung của người chiến sĩ cách mạng yêu nước, hết lòng lo lắng cho vận mệnh của đất nước.
Đề b:
Nghị luận về đại dịch covid-19
+ Mở bài
Giới thiệu, dẫn dắt về vấn đề cần nghị luận: Tinh thần đoàn kết dân tộc.
Đại dịch covid 19 vừa qua đã gây một cuộc khủng hoảng lớn cả về kinh tế lẫn đời sống của người dân trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam. Nhưng qua đại dịch này, chúng ta lại một lần nữa khẳng định được truyền thống đoàn kết dân tộc lâu dời của con dân đất Việt
+ Thân bài
Giải thích về tinh thần đoàn kết dân tộc:
Tinh thần đoàn kết chính là tình yêu thương giữa người với người, sống có trách nhiệm với cộng đồng, sẵn sàng giúp đỡ, ra tay cứu người trong lúc hoạn nạn. Tinh thần ấy được mô tả qua nhiều câu ca dao, tục ngữ ngàn xưa của ông bà ta: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn
Vai trò, sức mạnh, ý nghĩa của tinh thần đoàn kết dân tộc.
- Tạo nên sức mạnh to lớn đối với thời cuộc, giúp gắn kết con người với con người trong một xã hội.
- Khiến con người biết bao dung, nhường nhịn và sẻ chia.
- Đem lại cuộc sống hòa bình, tốt đẹp
Dẫn chứng, chứng minh hành động cụ thể:.
- Chính phủ nước ta đã có động thái quyết tâm bảo vệ, giúp đỡ công dân, tạo điều kiện đón họ trở về từ vùng dịch. Phương ngôn của chính phủ lúc đó chính là “Việt Nam quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau”.
- Các hoạt động thiện nguyện như phát đồ ăn miễn phí, làm cơm hỗ trợ cán bộ y tế trên tuyến đầu chống dịch, giúp đỡ hỗ trợ những người hoàn cảnh khó khăn. Cây ATM gạo
- Học sinh, sinh viên các trường đại học phát khẩu trang, nước rửa tay cho người dân.
- Phong trào giải cứu dưa hấu, giải cứu tôm hùm,… khắp các tỉnh thành.
– Phê phán, ngăn chặn những hành vi gây ảnh hưởng đến đát nước như lan truyền thông tin bịa đặt, có hành vi gây rối, chống lại dĐảng và nhà nước, lợi dụng dịch bệnh tăng giá hay ép giá người dân.Qua đó thấy được tinh thần đoàn kết vững mạnh của nhân dân Việt Nam
+ Kết bài
Khẳng định lại vấn đề.

