Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Thế mạnh hàng đầu của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nước ta là
A. Vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu hàng hóa
B. Khai thác tổng hợp tài nguyên biển, khoáng sản và rừng
C. Nguồn lao động rẻ, chất lượng ngày càng được nâng cao
D. Mạng lưới giao thông vận tải đang được đầu tư phát triển
Đáp án là B
Đáp án: C
Giải thích: Các thiết bị vệ tinh khí tượng hiện nay đã giúp chúng ta dự báo được khá chính xác về quá trình hình thành và hướng di chuyển của bão. Chính vì vậy, chúng ta dễ dàng đưa ra những giải pháp, phương hướng để phòng – tránh bão giảm thiệt hại tối thiểu về người và tài sản.
Sinh vật Việt Nam thay đổi theo độ cao do nhiệt độ và độ ẩm thay đổi. Có thể chia làm ba đai sinh thái chính:
– Đai nhiệt đới gó mùa: Dưới 600‑700 m ở miền Bắc và dưới 900‑1000 m ở miền Nam. Thảm thực vật là rợng nhiệt đới thường xanh giàu tài nguyên với các họ Dầu, Đậu, Vang, chò chỉ, gỗ đỏ... Động vật tiêu biểu: voi, hổ, nai, trâu rừng, khỉ, vị têu, các loài chim nhiệt đới, bò sát và côn trùng phong phú.
– Đai cận nhiệt gó mùa (cận nhiệt núi): Từ khoảng 600‑2600 m ở miền Bắc và 900‑2600 m ở miền Nam. Nhiệt độ giảm dần, có rờng á nhiệt đới với cây lá kim (thông hai lá dẹt, pơ mu, dẻ tùng) xen lẫn cây lá rộng ôn đới như dẻ, sòi, dương xỉ. Động vật có hươu, nai, gấu, khỉ, các loài chim nhu trĩ, gà lôi, sóc bay...
– Đai ôn đối núi cao: Trên khoảng 2600 m (chệ có ở dãy Hoàng Liên Sơn). Khí hậu lạnh quanh năm, thực vật gồm rêu, địa y, cây bụi, trúc lùn; động vật ít loài, có sóc đất, chồn, một số loài chim nhỏ và côn trùng chịu lạnh. Sự phân hoá này phản ánh tác động của độ cao đến nhiệt độ, độ ẩm và được dùng để quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học.
Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng lãnh thổ kéo dài và địa hình phân hoá dẫn đến sự khác biệt rõ nét giữa các vùng: - Miền Bắc: Mùa đông chịu ảnh hưởng gió mùa đông Bắc, thời tiết lạnh, có nơi rét đậm, vùng núi cao có sương muối; mùa hè chịu gió mùa Tây Nam nóng ẩm, mưa nhiều. Giao mùa có nồm ẩm. - Miền Trung: Phía Bắc Trung Bộ có mùa đông lạnh nhưng ngắn, mùa hè nóng hơn; ven biển Trung Bộ mưa nhiều vào thu – đông do bão và góc gió đông bắc; sườn Tây Trương Sơn khô nóng do gó phơn. - Miền Nam: Khí hậu cận xích đạo, nhiệt độ cao quanh năm, ít biến động; có hai mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến 11, mùa khô từ tháng 12 đến 4. - Theo độ cao: Các vùng núi cao như Hoàng Liên Sơn khí hậu mát mẻ, có đai cận nhiệt và ôn đới; vùng đồng bằng ven biển nóng ẩm, có đai nhiệt đối. Nguyên nhân của sự phân hoá khí hậu là vị trí trải dài, địa hình phân bậc, ảnh hưởng của biển Đông và hoạt động khác nhau của các loại gió mùa.
Khí hậu Việt Nam nhìn chung thuộc kiểu nhiệt đối gó mùa nhưng có sự phân hóa rõ rệt do vị trí vĩ độ, địa hình và tác động của biển.
– Theo chiều Bắc – Nam: Miền Bắc và Bắc Trung Bộ bị gó mùa đông bắc chi phối, mùa đông lạnh, nhiệt độ thấp, mùa hè nóng ẩm vào gó mùa tây nam; có bốn mùa rõ rệt. Miền Nam (Nam Bộ) nằm hoàn toàn trong đới khí hậu nhiệt đới, nóng quanh năm, phân thành hai mùa mưa – khô rõ rệt.
– Miền Trung là vùng chuyển tiếp: Bắc Trung Bộ có mùa đông lạnh yếu; Trung Trung Bộ bị ảnh hưởng của gó phơn khô nóng và mùa mưa thường tập trung vào thu – đông; Nam Trung Bộ khí hậu nóng khô quanh năm, mưa lệch mùa.
– Theo độ cao và hướng địa hình: Ở các vùng núi cao như Hoàng Liên Sơn, cao nguyên Trung Bộ, khí hậu mát mẻ, nhiều nơi có sương giá, băng tuyết; trong khi đồng bằng ven biển khí hậu nóng và thường hấp thuộc bão, gió mùa. Sươn đón gó như phía tây Trường Sơn nhận nhiều mưa hơn sươn khuất gó phía đông, lượng mưa và độ ẩm vì thế cũng khác nhau. Nguyên nhân gây phân hóa khí hậu là do lãnh thổ Việt Nam trải dài qua nhiều vĩ độ, địa hình phân bậc phức tạp và sự tác động đan xen của hai hệ thống gó mùa chính (gó mùa đông bắc và gó tín phong) cùng với biển Đông.
Báo cáo về sự phân hoá tự nhiên Việt Nam Việt Nam là một quốc gia kéo dài theo hướng Bắc – Nam, tiếp giáp biển Đông và có địa hình rất đa dạng với đồng bằng, đồi núi và nhiều cao nguyên nên thiên nhiên nước ta vừa phong phú vừa biến đổi.
1. *Sự phân hoá theo chiều Bắc – Nam:* Miền Bắc có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, khí hậu chuyển từ cận nhiệt đới sang nhiệt đối; miền Trung mang tính chuyển tiếp với mùa mưa lệch vào thu và nhiều vùng chịu gó phơn khô nóng; miền Nam có khí hậu cận xích đạo, nóng ẩm quanh năm và chỉ có hai mùa mưa – khô.
2. *Sự phân hoá theo hướng Đông – Tây:* Sườn đón gó phía đông (các đồng bằng ven biển và triền đông dãy Trương Sơn) nhận nhiều mưa và độ ẩm cao; sườn khuất gó phía tây (cao nguyên, miền núi) khí hậu khô nóng hơn. Càng lên cao, nhiệt độ giảm và thảm thực vật chuyển dần từ rừng nhiệt đới sang rừng cận nhiệt, ôn đới.
3. *Sự phân hoá theo độ cao:* Ở độ cao dưới 600 m, rặng nhiệt đối phát triển; từ 600‑1600 m có rừng cận nhiệt, khí hậu mát mẻ; trên 1600 m có rừng ôn đối với nhiều loài thông, đỗ quyên. Độ cao làm thay đổi nhiệt độ, độ ẩm và hệ sinh thái. Nguyên nhân tạo nên sự phân hoá là do lãnh thổ kéo dài gần 15 vĩ độ, địa hình bị phân cắt bởi nhiều dãy núi, ảnh hưởng của gó mùa và biển Đông.
Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, lãnh thổ trải dài từ khoảng 8°30' đến 23°23' Bắc và kéo dài theo chiều Bắc–Nam hơn 1 650 km, lại có biển và nhiều dạng địa hình nên thiên nhiên rất phong phú và phân hoá đa dạng. - *Phân hoá theo Bắc – Nam:* Từ Bắc Bộ vào Nam, khí hậu và cảnh quan thay đổi. Miền Bắc có bốn mùa rõ rệt; miền Nam (Nam Bộ) nóng quanh năm; Trung Bộ và Nam Trung Bộ mang tính chuyển tiếp và chịu ảnh hưởng của gó phơn, bão, nên sự phân hoá khí hậu rõ rệt. - *Phân hoá theo Đông – Tây:* Ở ven biển và đồng bằng phía Đông, khí hậu ẩm và mưa nhiều; ở vùng núi phía Tây, nhất là sườn khuất gó, khí hậu khô hơn, có gó phơn vào mùa hạ. Từ đồng bằng ven biển đi lên dãy Trương Sơn, thiên nhiên thay đổi từ đồng bằng, trung du đến miền núi, cao nguyên. - *Phân hoá theo độ cao:* Địa hình nước ta có đồng bằng thấp, đồi núi trung bình và núi cao. Nhiệt độ và thảm thực vật thay đổi theo đai cao: ở đồng bằng là rừng nhiệt đối, lên cao là rừng cận nhiệt đối rồi rừng ôn đối ở Hoàng Liên Sơn. Nguyên nhân của sự phân hoá tự nhiên là do lãnh thổ kéo dài, vị trí tiếp giáp biển Đông, địa hình đa dạng, gió mùa và sự xen kẽ của các dãy núi, cao nguyên.
Đáp án C
Ngày nay, chúng ta dự báo được khá chính xác về quá trình hình thành và hướng di chuyển của bão là nhờ vào các thiết bị vệ tinh khí tượng