K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

5 tháng 1 2022
Bối cảnh vùng đất Quảng Bình trước và sau khi xuất hiện danh xưng 
 
 
Ngày nay, tỉnh Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ với diện tích tự nhiên 8.065 km2; dân số năm 2011: 853.004 người; với một vị trí chiến lược có tầm quan trọng về nhiều mặt. Tọa độ địa lý ở phần đất liền:
- Điểm cực Bắc: 18005'12'' vĩ độ Bắc (giáp tỉnh Hà Tỉnh);

- Điểm cực Nam: 17005' 02'' vĩ độ Bắc (giáp tỉnh Quảng Trị);

- Điểm cực Đông: 106059'37'' kinh độ Đông (giáp biển Đông với đường bờ biển dài 116,04km);

- Điểm cực Tây: 105036'55'' kinh độ Đông (giáp tỉnh Khăm Muộn (Lào) với đường biên giới dài 201,87km).

Ngoài ra, Quảng Bình sở hữu dãy Hoành Sơn chạy từ Tây sang Đông, cảng Hòn La, cảng Hàng không Đồng Hới, Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, Quốc lộ 12, tỉnh lộ 20, 16; cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu phụ khác nối liền với Nước CHDCND Lào.

Về địa hình: Quảng Bình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông; 85% tổng diện tích tự nhiên là đồi núi. Toàn bộ diện tích được chia thành các vùng sinh thái cơ bản: Vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng cát ven biển.

Về khí hậu: Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, luôn bị tác động bởi khí hậu của phía Bắc và phía Nam, được chia làm hai mùa rõ rệt:

- Mùa mưa, từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình 2.000 - 2.300mm/năm. Thời gian mưa tập trung và các tháng 9, 10 và 11.

- Mùa khô, từ tháng 4 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình 24oc - 25oc. Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8.

Nằm trên dải đất hẹp nhất của Tổ quốc, Quảng Bình đã trải qua nhiều biến cố lịch sử của dân tộc. Mảnh đất Quảng Bình luôn ở vị trí xung yếu nên phải oằn mình chứng kiến những nỗi đau chia cắt Tổ quốc do chiến tranh. Tuy nhiên, từ trong biến cố, Quảng bình lại là nơi gặp gỡ của nhiều cộng đồng dân cư, trở thành vùng đất chứa đựng sự hội tụ và giao thoa của các nền văn minh.

Để hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Quảng Bình ngày nay, chúng ta cần lần ngược về lịch sử:

1. Quảng Bình thời tiền sử:

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất học, vùng đất Quảng Bình có một bề dày văn hóa hàng nghìn năm. Nhiều dấu tích cư trú lâu đời của người tiền sử, từ thời đồ đá giữa, cách đây khoảng vạn năm. Các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước trước năm 1945 đã phát hiện được trên địa phận Quảng Bình nhiều di tích khảo cổ học.

Thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, vùng đất Quảng Bình thuộc bộ Việt Thường.

Năm 1926, nhà khảo cổ học người Pháp đã phát hiện và khai quật được nhiều di chỉ hang động ở miền Tây Quảng Bình, thuộc huyện Tuyên Hóa, qua đó cho thấy có sự tồn tại của nền văn hóa khảo cổ mang tên Hòa Bình ở vùng núi đá vôi này.

Người Quảng Bình thời tiền sử - thuộc nền văn hóa Hòa Bình - sống trong các hang động, các mái đá. Họ thường chọn các hang đá, mái đá cao ráo, nhiều ánh sáng và gần nguồn nước, thức ăn chủ yếu của họ là ốc. Sinh sống trong các hang động ở miền thượng nguồn của Quảng Bình, theo mực nước thủy triều rút xuống, những người Quảng Bình cổ men theo các triền sông có đất đai màu mỡ di cư dần xuống đồng bằng ven biển, khai phá đầm lầy, chinh phục thiên nhiên, xây dựng quê hương bản làng.

Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những di chỉ làng ven các dòng sông: Di chỉ Cồn Nền nằm ở bờ Bắc sông Gianh, di chỉ Lệ Kỳ nằm sát một dòng sông cổ bị vùi lấp... Vào mùa hè năm 1923, hai thông tin viên người Pháp của trường Viễn Đông Bác Cổ là Max và Depiruy đã phát hiện ra di chỉ khảo cổ học tại Bàu Tró. Cuối mùa hè năm đó, nhà địa chất kiêm khảo cổ học Etinen Patte đã tổ chức khai quật và công bố những hiện vật của thời tiền sử đồ đá mới.

Những hiện vật này gồm nhiều rìu đá, mảnh tước, hai hòn ghè bằng thạch anh, bàn nghiền hạt mảnh gốm vỡ... Vào mùa xuân năm 1980, Trường Đại học tổng hợp Huế tổ chức khai quật lại di chỉ Bàu Tró ở khoảng cách cách mép nước hồ lúc đó 40m, cao hơn mặt nước 2,3m, cách hố khai quật của Patte hơn 100m về phía Tây. Hiện vật thu được bao gồm rìu, bôn đá, bàn mài, chày nghiền, mũi nhọn và vô số các mảnh gốm vỡ của các loại nồi, niêu, bình, vò... Từ những phát hiện này, các nhà khảo cổ học đã lấy tên của di chỉ để đặt cho nền văn hóa hậu kỳ đá mới phân bố ở vùng ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên là văn hóa Bàu Tró. Ngày nay, công cuộc khai quật, nghiên cứu Bàu Tró càng được đẩy mạnh, mở ra nhiều triển vọng trong việc nghiên cứu Quảng Bình thời tiền sử và người tiền sử Quảng Bình, cũng như vấn đề tiền Đông Sơn và tiền Sa Huỳnh - mối quan hệ qua lại của văn hóa hai miền qua văn hóa Bàu Tró. Đã có nhiều ý kiến cho rằng văn hóa Bàu Tró là một trong những cội nguồn nảy sinh văn hóa Đông Sơn phía Bắc và văn hóa Sa Huỳnh ở phía Nam. Tuy nhiên, nếu chủ nhân của văn hóa Hòa Bình ở miền Tây Quảng Bình đã sáng tạo nên một nền văn hóa miền núi thì người Bàu Tró cũng tạo nên một nền văn hóa nước ở miền xuôi.

Thành tựu vĩ đại của người Quảng Bình thời tiền sử là họ đã biết chế tạo những công cụ bằng đá salíc pha vẩy sét, một loại đá lửa làm công cụ lao động tốt nhất trong các loại hình văn hóa đá mới ở Việt Nam lúc bấy giờ. Mặt khác, họ còn là chủ nhân của văn hóa gốm màu sớm nhất trên đất nước ta. Điều này, chứng tỏ cộng đồng người tiền sử Quảng Bình ngay từ đầu đã có một nền tảng kỹ thuật đồ đá, đồ gốm rất cao.

Người Quảng Bình thời tiền sử, từ văn hóa Hòa Bình đến văn hóa Bàu Tró, luôn mang bản sắc riêng - bản sắc của vùng đất đầy nắng và gió Lào, bản sắc của một bộ phận cư dân có tính cần cù, chịu khó, bền bỉ được hình thành cách đây trên dưới vạn năm, là ngọn nguồn tạo nên bản sắc độc đáo: Văn hóa Quảng Bình trong bản sắc văn hóa Việt Nam.

2. Quảng Bình dưới chế độ thực dân phong kiến

Dưới các triều đại phong kiến Trung Quốc, nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, vùng đất Quảng Bình khi đó lúc thì thuộc quận Tượng Lâm, lúc thì thuộc quận Nhật Nam.

Năm 192, triều đại Đông Hán bị đánh bại phải rút quân về nước, Quảng Bình nằm trong lãnh thổ Lâm Ấp (thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), khi đó Quảng Bình là vùng đất địa đầu của Chăm-pa đối với các triều đại Trung Hoa cũng như các triều đại Việt khi người Việt đã giành được độc lập. Đến năm 758, Lâm Ấp đổi tên là Chiêm Thành, Quảng Bình khi đó thuộc 2 Châu: Châu Bố Chính và Châu Địa Lý.

Năm 1069, để phá tan âm mưu cấu kết giữa quân xâm lược nhà Tống và Chiêm Thành, một đại quân Đại Việt do Lý Thánh Tông cầm đầu và tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy đã tiến đánh vào tận kinh thành Chăm-pa, bắt được vua Chiêm là Chế Củ đưa về Thăng Long. Để được tha, vua Chiêm cắt dâng 3 Châu: Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý (gồm Quảng Bình và các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Bắc Hướng Hóa của Quảng Trị ngày nay) cho nhà Lý. Từ đó, Quảng Bình chính thức thuộc về nước Đại Việt. Lý Thường Kiệt là người đầu tiên xác định và đặt nền móng địa giới đầu tiên của vùng đất Quảng Bình ngày nay. Năm 1075, Lý Thường Kiệt đổi tên Châu Bố Chinh thành Châu Bố Chính, Châu Địa Lý thành Châu Lâm Bình, và mảnh đất Châu Lâm Bình (Quảng Bình ngày nay) chính thức được đưa vào bản đồ nước ta.

Tuy nhiên, sau giai đoạn này, địa giới và tên gọi Quảng Bình đã có nhiều thay đổi:

- Năm 1361, vua Trần Duệ Tông đổi Châu Lâm Bình thành phủ Tân Bình. Năm 1336, nhân dân Quảng Bình thanh gia và đạo quân Đại Việt đánh quân Chiêm Thành từ phía Nam ra cướp phá Châu Lâm Bình.

- Năm 1375, vua Trần Duệ Tông lại đổi phủ Lâm Bình thành phủ Tân Bình.

- Đến triều Lê, năm 1425, nhân dân Quảng Bình đã nổi dậy phối hợp cùng đại quân của tướng Lê Hãn đánh tan quân Minh trên bờ sông Gianh. Nhiều tráng kiệt của vùng đất Tân Bình được tuyển chọn vào nghĩa quân của Lê Lợi tiến ra Bắc đánh đuổi giặc Minh, nhiều người trở thành tướng giỏi của Lê Lợi như Phạm Thượng Tướng, Nguyễn Danh Cả... trực tiếp góp phần vào cuộc chiến đấu giải phóng đất nước. Vào đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), quận Tân Bình thuộc Châu Thuận Hóa. Từ những sự kiện trên, có thể nhận thấy, Quảng Bình chính là cái nơi sản sinh nhiều danh nhân lỗi lạc không những cống hiến cho quê hương Quảng Bình, mà còn đóng góp vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước từ những ngày đầu dựng nước Văn Lang.

- Giai đoạn 1558 - 1604, vùng đất Bắc sông Gianh gọi là xứ Đàng Ngoài, vùng Nam sông Gianh gọi là xứ Đàng Trong. Năm 1605, Nguyễn Hoàng đổi Châu Bố Chính thành phủ Quảng Bình gồm có 3 dinh: Dinh Bố Chính (trước là dinh Ngói), dinh Mười (hay dinh Lưu Đồn), dinh Quảng Bình (hay dinh Trạm). Từ đây, Quảng Bình chính thức được xác lập trên bản đồ hình chữ S.

- Tuy nhiên, do nằm ở vùng đất tranh chấp của hai thế lực phong kiến, vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, nhân dân Quảng Bình khi đó đã phải chịu biết bao khó khăn, áp bức, cuộc sống nhân dân hai vùng điêu đứng, cực khổ. Năm 1771, phong trào nông dân Đàng Trong chống áp bức đã phát triển mạnh mẽ với đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia vì mang tính cộng đồng và nhân văn sâu sắc. Chỉ...

13 tháng 2 2022

Tham khảo:

 

 Đời sống vật chất:

     + Ăn: gạo tẻ, gạo nếp, thịt cá, rau củ.

     + Mặc: nữ mặc áo, váy, nam đóng khố.

     + Ở: nhà sàn

 

- Đời sống tinh thần:

     + Sùng bái tự nhiên (thời thần mặt trời, thần Sông, thần Nước,..)

     + Thờ cúng tổ tiên, sùng kính anh hùng, người có công

     + Tục lê cưới xin, ma chay, tổ chức lễ hội

     + Có tập quán nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình, đeo đồ trang sức,..

13 tháng 2 2022

Tham khảo:

 

- Đời sống vật chất:

     + Ăn: gạo tẻ, gạo nếp, thịt cá, rau củ.

     + Mặc: nữ mặc áo, váy, nam đóng khố.

     + Ở: nhà sàn

- Đời sống tinh thần:

     + Sùng bái tự nhiên (thời thần mặt trời, thần Sông, thần Nước,..)

     + Thờ cúng tổ tiên, sùng kính anh hùng, người có công

     + Tục lê cưới xin, ma chay, tổ chức lễ hội

     + Có tập quán nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình, đeo đồ trang sức,..

29 tháng 10 2018

Thời Hòa Bình- Bắc Sơn, đời sống của người nguyên thủy phát triển cả về vật chất lẫn tinh thần.

Vật chất: Họ làm những công cụ bằng tre, gỗ,...Họ biết mài nhẵn và làm sắc phần lưỡi để tìm kiếm thức ăn dễ hơn.

Tinh thần: Họ biết làm đồ trang sức, có tục chôn cất đồ bên cạnh người chết.

29 tháng 10 2018

Sai rồi bạn

24 tháng 3 2016

- Đời sống vật chất:

+ Nước Văn Lang là một nước nông nghiệp, thóc lúa đã trở thành lương thực chính, ngoài ra, cư dân còn trồng khoai, đậu, cà, bầu, bí, chuối. cam...

+ Nghề trồng dâu, đánh cá, chăn nuôi gia súc và các nghề thủ công như làm đồ gốm, dệt vải, xây nhà, đóng thuyền... đều được chuyên môn hoá.

+ Nghề luyện kim đạt trình độ kĩ thuật cao. Cư dân cũng bắt đầu biết rèn sắt.

- Thức ăn chính của người Văn Lang là cơm nếp, cơm tẻ: rau, cà, thịt, cá, biết làm mắm và dùng gừng làm gia vị. Họ ở nhà sàn mái cong hình thuyền hay mái tròn hình mui thuyền làm bằng gỗ, tre, nứa, lá.

- Làng. chạ thường gồm vài chục gia đình, sống ven đồi, ven sông, ven biển. Họ đi lại bằng thuyền. Về trang phục, nam đóng khố mình trần, nữ mặc váy, áo xẻ giữa, có yếm che ngực, tóc cắt ngắn hoặc bỏ xoã, búi tó, hoặc tết đuôi xam. Ngày lễ họ thích đeo các đồ trang sức như vòng tay, khuyên tai, đội mũ cắm lông chim hoặc bông lau.

- Đời sống tinh thần:

+ Xã hội thời Văn Lang đã chia thành nhiều tầng lớp khác nhau : những người quyền quý, dân tự đo, nô tì. Sự phân biệt các tầng lớp còn chưa sâu sắc.

+ Thường tổ chức lễ hội, vui chơi (một số hình ảnh về lễ hội đã được ghi lại trên mặt trống đồng).

+ Cư dân Văn Lang có một số phong tục, tập quán (qua truyện “Tấm Cám'', bánh Chưng, bánh giầy''…

 

21 tháng 12 2020

ư dân Văn Lang - Âu Lạc có đời sống vật chất và tinh thần khá phong phú.

* Đời sống vật chất:

- Ăn: Nguồn lương thực chính là thóc gạo (gạo nếp và gạo tẻ), ngoài ra còn có khoai, sắn. Thức ăn có các loại cá, thịt, rau, củ.

- Ở: Tập quán ở nhà sàn.

- Mặc: Nữ mặc áo, váy. Nam đóng khố.

* Đời sống tinh thần:

- Tín ngưỡng:

+ Sùng bái tự nhiên (thờ thần Mặt Trời, thần Sông, thần Núi và tục phồn thực).

+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng kính các anh hùng, người có công với làng nước là nét đặc sắc của người Việt cổ.

- Dần dần hình thành một số tục lệ: cưới xin, ma chay. Lễ hội khá phổ biến, nhất là hội mùa.

- Có tập quán nhuộm răng đen, nhai trầu, xăm mình; cả nam lẫn nữ đều thích đeo đồ trang sức.

21 tháng 12 2020

* Đời sống vật chất:

- Ăn: Nguồn lương thực chính là thóc gạo (gạo nếp và gạo tẻ), ngoài ra còn có khoai, sắn. Thức ăn có các loại cá, thịt, rau, củ.

- Ở: Tập quán ở nhà sàn.

- Mặc: Nữ mặc áo, váy. Nam đóng khố.

* Đời sống tinh thần:

- Tín ngưỡng:

+ Sùng bái tự nhiên (thờ thần Mặt Trời, thần Sông, thần Núi và tục phồn thực).

+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng kính các anh hùng, người có công với làng nước là nét đặc sắc của người Việt cổ.

- Dần dần hình thành một số tục lệ: cưới xin, ma chay. Lễ hội khá phổ biến, nhất là hội mùa.

- Có tập quán nhuộm răng đen, nhai trầu, xăm mình; cả nam lẫn nữ đều thích đeo đồ trang sức.

6 tháng 3 2022

- Cuộc sống vật chất:

   + Việc ăn: Cơm nếp, cơm tẻ, rau, cá ,thịt.

   + Việc ở: Nhà sàn làm bằng gỗ, tre, lứa, lá, có cầu thang lên xuống.

   + Việc mặc: Nam: đóng khố, mình trần, đi chân đất; nữ: mặc váy, áo xẻ ngực, có yếm che ngực.

   + Việc đi lại: Đi lại bằng thuyền

- Cuộc sống tinh thần

   + Phong tục: Lễ hội, vui chơi, ăn trầu cau, gói bánh chưng, bánh giầy.

5 tháng 12 2021

Tham khảo

Biết ghè đẽo hòn cuội để chặt, đào,..bên cạnh có công cụ te, gỗ, nứa,...làm đồ gốm, nấu chín thức ăn.

5 tháng 12 2021

Tham khảo

Nêu đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Khánh Hòa thời nguyên thủy.

 

TL:Họ b

iết ghè đẽo hòn cuội để chặt, đào,..bên cạnh có công cụ te, gỗ, nứa,...làm đồ gốm, nấu chín thức ăn.

11 tháng 12 2020

- Đời sống vật chất:

+ Họ đã biết mài đá, dùng nhiều loại đá khác nhau để làm công cụ các loại như rìu, bôn, chày. Dùng tre, gỗ, xương, sừng làm công cụ và đồ dùng cần thiết.

+ Biết làm đồ gốm.

+ Biết trồng trọt, chăn nuôi.

+ Ngoài các hang động, mái đá, con người còn biết làm các túp lều lợp bằng cỏ, lá cây để ở, làm cho cuộc sống ngày càng ổn định hơn.

- Về xã hội:

+ Tổ chức "bầy người nguyên thủy" đã được thay thế bằng thị tộc, có sự phân công lao động rõ ràng.

+ Thời kì này con người đã sống định cư lâu dài.

 

12 tháng 12 2020

-Nghề trồng lúa phát triển, con người định cư đông hơn,lâu hơn ở ven các sông lớn, hình thành nên các làng bản,chiềng,chạ,bộ lạc.

-Chế đọ phụ hệ thay thế cho chế độ mẫu hệ.

-Xuất hiện những người quản lí chỉ huy các làng bản(là những người giàu có nhiều kinh nghiệm) đã có sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội.

14 tháng 11 2021

Tham khảo!

* Đời sống vật chất và tinh thần của người nguyên thủy ở Việt Nam Đời sống vật chất: • Người nguyên thủy đã có những bước tiến trong chế tạo công cụ đá và sáng tạo thêm nhiều công cụ, vật dụng mới. • Họ biết trồng trọt và chăn nuôi gia sức, quần tụ thành thị tộc, bộ lạc. Đời sống tinh thần: • Biết làm đồ trang sức bằng vỏ ốc, vỏ điệp. • Biết viết lên vách những hình mô tả cuộc sống.

14 tháng 11 2021

undefined