K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

29 tháng 9 2025

Tôi không biết

29 tháng 9 2025
Nguyễn Dữ là một danh sĩ, tác giả của Truyền kỳ mạn lục thời thế kỷ 16, nổi tiếng là người có tư tưởng ưu thời mẫn thế, tinh thần dân tộc và tư tưởng thân dân sâu sắc, dù sau khi đỗ Cử nhân đã xin về ẩn dật để phụng dưỡng mẹ, xa lánh thời cuộc suy thoái của nhà Mạc và Lê. Ông xuất thân từ gia đình khoa bảng, là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm và để lại di sản văn học quý báu qua các truyện viết bằng chữ Hán, phản ánh hiện thực xã hội qua yếu tố kỳ ảo, li kì.  1. Thân thế và sự nghiệp:
  • Xuất thân:  Nguyễn Dữ là con trai cả của Tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu, xuất thân trong một gia đình khoa bảng ở Hải Dương. 
  • Học vấn:  Ông thông minh, chăm học, đọc nhiều, nhớ nhiều, có vốn hiểu biết rộng. 
  • Quan nghiệp:  Sau khi đỗ Cử nhân, ông từng làm quan cho nhà Mạc, rồi về làm Tri huyện dưới thời nhà Lê nhưng không lâu sau thì xin cáo quan về ở ẩn núi rừng Thanh Hóa vì bất mãn với thời cuộc suy thoái. 
  • Cuộc đời ẩn dật:  Ông trải qua nhiều năm sống ẩn dật, không đặt chân đến thị thành, an hưởng tuổi già bên sách vở và văn chương, thể hiện tinh thần độc lập, không màng danh lợi. 
2. Tư tưởng và quan điểm sống:
  • Ưu thời mẫn thế:  Dù ẩn dật, ông vẫn có tấm lòng ưu thời mẫn thế, quan tâm đến thời cuộc và số phận con người. 
  • Tư tưởng thân dân:  Nguyễn Dữ có tư tưởng thân dân sâu sắc, thể hiện trong tác phẩm của mình. 
  • Lý tưởng sĩ phu:  Ông thể hiện lý tưởng của người sĩ phu ẩn dật, lấy văn chương làm sự nghiệp, nối nghiệp gia đình. 
3. Di sản văn học:
  • Tác phẩm chính:  Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Truyền kỳ mạn lục, tập hợp 20 truyện ngắn viết bằng chữ Hán. 
  • Thể loại:  Truyền kỳ là thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại, trong đó thế giới con người và thế giới cõi âm có sự giao thoa, tạo nên yếu tố kỳ ảo, li kì hấp dẫn. 
  • Nội dung:  Truyện của Nguyễn Dữ thể hiện nhiều khía cạnh của đời sống, bao gồm: 
    • Phơi bày chế độ chính trị đen tối, đả kích thói xấu của quan lại. 
    • Nói lên số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. 
    • Phản ánh đời sống và lý tưởng của con người. 
  • Lời bình:  Một đặc điểm độc đáo của Truyền kỳ mạn lục là sự hiện diện của lời bình ở cuối nhiều truyện, thể hiện quan điểm, suy tư và tấm lòng của tác giả. 
28 tháng 8 2016

+ “Họ đều là những người nông dân nghèo thương con”. Nhưng tình thương con của mỗi người có biểu hiện và kết cục khác nhau: chị Dậu thương con mà không bảo vệ được con, phải bán con lấy tiền nộp sưu cứu chồng; lão Hạc phải tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con; còn ông Hai, khi nghe tin làng theo giặc lại lo cho con vì chúng nó cũng là con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...Rõ ràng, ông đặt tình cảm riêng trong mối quan hệ với làng, với nước; ông hiểu danh dự của mỗi con người – dù còn ít tuổi – cũng gắn với danh dự của làng, gắn với vận mệnh của đất nước.
+ “Họ đều có sức phản kháng, đấu tranh”. Trong hoàn cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám, chị Dậu phản kháng một cách tự phát, để bảo vệ chồng trước sự dã man vô nhân đạo của những kẻ đại diện cho cái gọi là “nhà nước” bấy giờ. Còn ông Hai, ông có ý thức trách nhiệm với làng, có tinh thần kháng chiến rất rõ ràng: ông trực tiếp tham gia các hoạt động kháng chiến ở làng, ông muốn trở về làng để được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…khi đi tản cư ông vẫn lo cho các công việc kháng chiến ở làng.
- Đặc biệt, cần phân tích để thấy những chuyển biến “rất mới” trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Ở ông Hai, “tình yêu làng mang tính truyền thống đã hòa nhập với tình yêu nước trong tinh thần kháng chiến của toàn dân tộc”.
+ Tình yêu làng thể hiện ở việc hay khoe làng của ông. Phân tích để thấy sự thay đổi ở việc khoe làng ấy: trước Cách mạng, ông khoe sự giàu có, hào nhoáng của làng; sau Cách mạng tháng Tám, ông khoe không khí cách mạng ở làng ông…Ông tin vào ý thức cách mạng của người dân làng ông cũng như thắng lợi tất yếu nếu giặc đến làng nên nghe giặc “rút ở Bắc Ninh, về qua làng chợ Dầu…” thì ông hỏi ngay “ta giết được bao nhiều thằng?”.
+ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin đồn làng theo giặc. Từ khi chợt nghe tin đến lúc về nhà, nhìn lũ con; rồi đến những ngày sau…nỗi tủi hổ ám ảnh ông Hai thật nặng nề, mặc cảm tội lỗi ngày một lớn hơn. Tình yêu làng, yêu nước của ông còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông thấy tuyệt vọng vì ở nơi tản cư có tin không đâu chứa người làng Chợ Dầu. Lòng trung thành với cách mạng, với đất nước thật mạnh mẽ, hiểu rõ những điều quý giá mà cách mạng đã mang lại cho mình cũng như trách nhiệm với cách mạng nên ông Hai đã quyết định dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
+ Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ của ông Hai được thể hiện cảm động, chân thành khi ông tâm sự với đứa con út. Và, tinh thần kháng chiến, niềm tự hào về làng Chợ Dầu kháng chiến được thể hiện cụ thể khi ông Hai nghe tin cải chính về làng.
- Phân tích để thấy “nguyên nhân của những đổi thay rất mới đó ở nhân vật ông Hai”. Những đổi thay đó là do tác động của hoàn cảnh lịch sử. Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước là nét rất mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám mà nhà văn Kim Lân đã thể hiện qua nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy có được bởi cách mạng đã mang lại cho người nông dân cuộc sống mới, họ được giác ngộ và cũng có ý thức tự giác vươn lên cho kịp thời đại. Vậy nên, tầm nhìn, suy nghĩ của ông Hai đã được mở rộng, đúng đắn.

23 tháng 11 2025

Đoạn trích:

*"Ở đâu năm cửa, nàng ơi?
Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?
Sông nào bên đục bên trong?
Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh?
Đền nào thiêng nhất xứ Thanh?
Ở đâu lại có cái thành tiên xây?

Thành Hà Nội năm cửa, chàng ơi!
Sông Lục Đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.
Nước sông Thương bên đục bên trong,
Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh.
Đền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh,"*


1. Thể loại của văn bản

  • Thể loại: Văn bản tục ngữ – ca dao – dân ca (hoặc văn bản tản văn ca ngợi truyền thống, cảnh vật, địa danh).
  • Trong văn học Việt Nam, đây là thể loại văn miêu tả – biểu cảm dân gian, dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu câu hỏi – trả lời.

2. Đặc điểm nghệ thuật của thể loại trong văn bản

  • Câu hỏi – trả lời: Các câu hỏi mở đầu tạo nhịp điệu, lôi cuốn người đọc, rồi phần trả lời nêu danh thắng, địa danh, thần tích.
  • Hình ảnh cụ thể, giàu tượng trưng: Mỗi địa danh đi kèm chi tiết đặc trưng (thành năm cửa, sông sáu khúc, núi thắt cổ bồng) → giúp người đọc hình dung sinh động.
  • Ngôn ngữ dân gian, nhịp điệu tự nhiên: Dễ nhớ, dễ thuộc, mang tính truyền miệng.
  • Ca ngợi và tôn vinh: Văn bản ca ngợi vẻ đẹp, sự thiêng liêng, giá trị văn hóa – lịch sử của đất nước.

3. Nội dung của văn bản

  • Miêu tả và ca ngợi các danh lam, địa danh nổi tiếng: Thành Hà Nội, sông Lục Đầu, núi Tản Viên, đền Sòng.
  • Nêu bật đặc trưng thiên nhiên, kiến trúc và thần tích đi kèm, thể hiện tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc.

4. Ý nghĩa rút ra

  • Giáo dục lòng tự hào dân tộc, trân trọng văn hóa, lịch sử và các danh thắng của đất nước.
  • Nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị truyền thống, tinh thần bảo vệ và gìn giữ quê hương.
  • Gợi ý rằng việc nhận biết, hiểu và tôn vinh quê hương là cách giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
9 tháng 12 2016

a, Phương thức : tự sự

b, tiền đúng là thứ khiến con người ta mù oán về nó, nó khiến con người mất hết lí trí. Nhiều người vì tiền mà còn hi sinh cả hạnh phúc. Đúng tiền có thể mua được vũ khí nhưng bình yên, hạnh phúc làm sao mà đem ra trao đổi bằng tiền được. Làm sao mà lấy tiền ra đem trao đổi, vì hòa bình là do con người tạo ra chứ không phải tiền.

c, không phải lúc nào tiền cũng có thể đem ra mua bán không phải lúc nào cũng cần dùng. Vì tiền chỉ là một tờ giấy, nó chỉ có giá trị với đồ vật nhưng lại không bao giờ có giá trị với tinh thần.

d, Từ khi đồng tiên có khả năng khiến cuộc sống bạn tốt hơn, bạn càng kiếm được nhiều tiền thì số tiền đó càng được phát triển nhiều hơn và nhanh hơn. Bên cạnh đó, bạn kiếm được càng nhiều tiền thì bạn càng có nhiều tự do: tự do để ở nhà chơi với bọn trẻ, tự do để được nghỉ ngơi và du lịch khắp thế giới hoặc tự do nghỉ việc nếu thật sự không thích. Nếu bạn có bất kỳ một nguồn thu nhập nào, bạn đã có thể bắt đầu vun đắp cho sự giàu có của mình ngay từ hôm nay. Có thể, mỗi lần bạn chỉ để dành được vài trăm ngàn đồng, nhưng mỗi sự đầu tư này là một viên gạch tạo nên nền tảng của sự tự do về tài chính của bạn.Kiếm được nhiều tiền không giúp bạn giải quyết được hết những vấn đề. Đồng tiền là một chiếc kính phóng đại, nó sẽ giúp bạn nhìn rõ hơn và thúc đẩy mọi việc. Nếu bạn không có khả năng kiếm được đủ tiền để trang trải thì cuộc sống của bạn sẽ thật tồi tệ. Nhưng vấn đề quan trọng không phải là số lượng tiền bạn kiếm được mà chính ở chỗ bạn đã được dạy cách tiêu tiền như thế nào.

9 tháng 12 2016

cam on ban nha

 

I. MỞ ĐẦUVăn học dân gian Việt Nam không chỉ gồm những truyện cổ tích, truyền thuyết, mà còn có một thể loại đặc sắc là truyện cười. Truyện cười sử dụng tiếng cười để phản ánh hiện thực xã hội, châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu trong đời sống. Một trong những truyện cười tiêu biểu là “Lợn cưới, áo mới” – một tác phẩm ngắn nhưng sâu sắc, phản ánh rõ nét...
Đọc tiếp

I. MỞ ĐẦU


Văn học dân gian Việt Nam không chỉ gồm những truyện cổ tích, truyền thuyết, mà còn có một thể loại đặc sắc là truyện cười. Truyện cười sử dụng tiếng cười để phản ánh hiện thực xã hội, châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu trong đời sống. Một trong những truyện cười tiêu biểu là “Lợn cưới, áo mới” – một tác phẩm ngắn nhưng sâu sắc, phản ánh rõ nét thói khoe khoang hình thức của một bộ phận người dân xưa.


II. NỘI DUNG CHÍNH

1. Giới thiệu sơ lược về truyện “Lợn cưới, áo mới”


Thể loại: Truyện cười dân gian


Nhân vật: Hai người đàn ông – một người có lợn cưới, một người có áo mới


Tóm tắt nội dung:

Một anh nông dân đang đi tìm con lợn cưới bị mất, liền hỏi một người qua đường:

– Bác có thấy con lợn cưới nhà tôi chạy qua đây không?

Người kia đáp:

– Tôi đứng đây từ sáng tới giờ mà **chưa thấy con lợn nào chạy qua, chỉ thấy một người mặc cái áo mới đi lại mãi thôi.

Cả hai người đều dùng cái cớ để khoe của: một người khoe có lợn cưới, một người khoe có áo mới.


2. Phân tích nội dung và ý nghĩa

a. Tiếng cười trào phúng nhẹ nhàng mà sâu sắc


Câu chuyện không có tình huống gay cấn, cũng không có nhân vật xấu độc, nhưng tạo nên tiếng cười châm biếm thông minh.


Cả hai nhân vật đều cố tình đưa ra thông tin không cần thiết chỉ để khoe của.


Người hỏi lợn: lẽ ra chỉ cần hỏi “Bác có thấy con lợn nào chạy qua không?” nhưng lại nói rõ “lợn cưới nhà tôi”.


Người kia cũng chẳng cần nói gì về áo, nhưng lại tranh thủ nói “chỉ thấy người mặc áo mới đi lại mãi thôi”.


b. Phê phán thói khoe khoang hình thức, giả tạo


Câu chuyện thể hiện một thói xấu phổ biến trong xã hội xưa và nay: thích khoe của, khoe mẽ dù rất vụn vặt.


Người nông dân khoe có lợn cưới – tức là gia đình đang làm đám cưới, có của ăn của để.


Người còn lại khoe mình có áo mới – một thứ xa xỉ với người nông dân xưa.


Bản chất khoe khoang bị lật tẩy một cách khéo léo qua cách nói bóng gió, tạo nên tiếng cười và bài học nhẹ nhàng.


c. Giá trị văn hóa – xã hội


Truyện cho thấy cái nhìn châm biếm nhưng rất tinh tế của nhân dân xưa.


Là một kiểu truyện cười “trào phúng nhẹ” – không quá gay gắt, nhưng để lại ấn tượng sâu.


Đồng thời thể hiện tư duy dân gian thông minh, sắc sảo, biết dùng ngôn ngữ để phản ánh bản chất sự việc.


III. KẾT LUẬN

“Lợn cưới, áo mới” là một truyện cười ngắn gọn, hài hước nhưng sâu sắc, phản ánh rõ nét thói khoe khoang hình thức – một thói xấu tồn tại cả trong quá khứ và hiện tại. Tác phẩm thể hiện tiếng cười trào phúng nhẹ nhàng, tinh tế, đồng thời cho thấy tài quan sát sắc bén và nghệ thuật kể chuyện sinh động của nhân dân lao động xưa. Đây là một minh chứng tiêu biểu cho giá trị giáo dục và phê phán nhẹ nhàng trong văn học dân gian Việt Nam.

0
13 tháng 5 2020

Về câu đó chứ không cần phải là câu bắt đầu ạ

28 tháng 9 2025

Nhà triết gia Francis Bacon từng khẳng định: “Sách làm đầy đủ con người.” Quả thật, sách không chỉ là kho tàng tri thức, mà còn là nhịp cầu nối liền tâm hồn con người qua mọi thời đại. Mỗi trang sách mở ra như một cánh cửa nhiệm màu, đưa ta vượt qua ngưỡng thời gian và không gian để chạm đến những miền đất xa lạ, gặp gỡ những tâm hồn đã từng sống, từng yêu, từng đau khổ và từng hiến dâng. Có khi đó là ngọn đuốc sử thi, soi rọi những trận chiến, những khát vọng tự do và ý chí trường tồn; có khi lại là tiếng thở dài khẽ khàng trong những trang nhật ký, hé lộ sự mong manh, hữu hạn của kiếp người; và cũng có khi là lời ca ngân nga trong thơ, chở nặng thương nhớ, niềm tin cùng những giấc mơ chưa bao giờ tắt. Sách lưu giữ hộ ta những giọt lệ của nhân loại, đồng thời truyền lại ngọn lửa niềm tin và ý chí sống cho hôm nay. Đọc sách là đối thoại với muôn đời, là học cách đồng cảm với một con người xa lạ tận chân trời, là lắng nghe tiếng vọng của chính mình giữa vô biên tri thức và cảm xúc. Chính trong hành trình ấy, ta nhận ra một sự thật giản dị mà lớn lao: con người, dù cách biệt bao nhiêu về thời đại, văn hóa hay số phận, vẫn gặp nhau ở một điểm chung bất diệt – khát vọng sống, khát vọng yêu thương và khẳng định ý nghĩa đời mình. Và khi khép lại trang sách, ta mới hiểu: điều kỳ diệu nhất không phải là tri thức đã được lưu giữ, mà là sự sống trong ta vừa được đánh thức – sự sống biết cảm, biết nghĩ, biết yêu và biết nối dài ước mơ nhân loại.


Anh em xem chấm hộ mình bài này nhé                       Trường THPT Sông Công                  Nơi ươm mầm tài năng và ước mơ         Trường THPT Sông Công là một ngôi trường danh tiếng tọa lạc tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Theo địa giới hành chính mới, trường thuộc Phường Sông Công và vẫn giữ vững vai trò là trung tâm giáo dục quan trọng của...
Đọc tiếp

Anh em xem chấm hộ mình bài này nhé
                       Trường THPT Sông Công
                  Nơi ươm mầm tài năng và ước mơ
         Trường THPT Sông Công là một ngôi trường danh tiếng tọa lạc tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Theo địa giới hành chính mới, trường thuộc Phường Sông Công và vẫn giữ vững vai trò là trung tâm giáo dục quan trọng của địa phương. Với bề dày truyền thống nhiều năm, trường không chỉ là nơi trang bị kiến thức, kỹ năng cho các thế hệ học sinh mà còn là mái nhà thứ hai, nơi nuôi dưỡng những ước mơ, tài năng và tinh thần sáng tạo của các em. Trải qua nhiều năm hình thành và phát triển, trường đã để lại những dấu ấn quan trọng trong nền giáo dục địa phương.

         Trường THPT Sông Công được thành lập ngày 5 tháng 7 năm 1986 theo quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Thái, với tên gọi ban đầu là Trường PTTH Kỹ thuật Công nghiệp Sông Công. Bản quyết định ấy đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng, mở ra chặng đường hình thành và phát triển của ngôi trường. Năm học đầu tiên 1986-1987, trường có 7 lớp học với 404 học sinh, trong đó có 3 lớp 10 tuyển mới và 4 lớp 11 chuyển từ các trường Phổ Yên và Đồng Hỷ. Do cơ sở vật chất chưa hoàn thiện, các em học sinh phải tạm học nhờ phòng học của trường Tiểu học Lý Tự Trọng. Để xây dựng những lớp học đầu tiên, nhà trường đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình từ các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công như Nhà máy Phụ tùng ô tô số I, Nhà máy Y cụ II, Nhà máy Điezen, Xí nghiệp Xây lắp III, Trường Công nhân Kỹ thuật Việt Đức và Trung đoàn 209. Nhờ những nỗ lực ấy, 7 phòng học đầu tiên của trường đã được hình thành, đặt nền móng cho sự phát triển sau này.

        Những năm tháng đầu tiên đầy gian nan ấy đã để lại trong lòng thầy và trò biết bao kỷ niệm khó quên. Dù bộn bề công việc và trách nhiệm nặng nề, niềm vui đến từ những thành quả học tập của khóa học đầu tiên đã tiếp thêm sức mạnh cho các thế hệ tiếp theo. Những năm học sau đó, trường PTTH Kỹ thuật Công nghiệp Sông Công tiếp tục phát triển, chuẩn bị sẵn sàng để cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho quê hương.

       Ngày 18 tháng 9 năm 2001, trường được UBND tỉnh Thái Nguyên đổi tên thành Trường THPT Sông Công và mở rộng quy mô trên diện tích 22.705 m². Cơ sở vật chất được đầu tư hiện đại với dãy nhà cao tầng, phòng vi tính, phòng bộ môn, phòng chức năng, thư viện và các thiết bị giảng dạy đáp ứng yêu cầu giáo dục trong thời đại mới. Cảnh quan sư phạm cũng được chăm chút với sân vận động, vườn cây, ao cá, bồn hoa và cây cảnh bốn mùa xanh ngát. Trường trở thành nơi kỷ cương, thầy trò yêu thương, bạn bè thân ái, chắp cánh cho ước mơ của biết bao thế hệ học trò. Hàng ngàn kỹ sư, cử nhân và thợ lành nghề đã trưởng thành từ mái trường này, trở thành niềm tự hào của địa phương.

      Bên cạnh việc chú trọng đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, Trường THPT Sông Công luôn quan tâm phát triển toàn diện cho học sinh. Nhà trường không chỉ tập trung nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học chính khóa mà còn tạo điều kiện để các em tham gia các hoạt động ngoại khóa phong phú. Các câu lạc bộ văn hóa, thể thao, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật được thành lập, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng mềm, tinh thần đồng đội và sự sáng tạo. Hoạt động thể thao như bóng đá, cầu lông, cờ vua, cờ tướng luôn được duy trì và phát triển, góp phần hình thành lối sống năng động, khỏe mạnh cho học sinh.

      Trường THPT Sông Công còn nổi bật với các truyền thống đặc sắc, tạo nên bản sắc riêng của ngôi trường. Lễ khai giảng và lễ bế giảng được tổ chức trang trọng, là dịp để cả thầy và trò nhìn lại một năm học, vinh danh những thành tích xuất sắc và khích lệ các em học sinh nỗ lực hơn trong học tập. Hằng năm, các hoạt động văn nghệ, hội thi khoa học kỹ thuật, phong trào “Ngày hội STEM” hay các chương trình thiện nguyện đều được các em học sinh nhiệt tình tham gia, tạo môi trường học tập năng động, thân thiện và giàu tính nhân văn.

      Mối quan hệ thầy trò tại trường luôn được duy trì trong tinh thần yêu thương, tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau. Giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người đồng hành, hướng dẫn, định hướng tương lai cho học sinh. Chính nhờ sự gắn kết này, Trường THPT Sông Công đã trở thành nơi ươm mầm tài năng, nuôi dưỡng ước mơ, và tạo ra những thế hệ học sinh trưởng thành toàn diện, sẵn sàng đóng góp cho quê hương và xã hội.

      Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, ngôi trường dấu yêu bước sang tuổi trưởng thành với độ chín, vững vàng trên mọi phương diện. Trong 30 năm qua, con số học sinh giỏi của nhà trường đã lên tới hàng nghìn em, 1801 em đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, 39 em đạt giải học sinh giỏi quốc gia, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp bình quân đạt 95%. Đặc biệt, các đội tuyển học sinh giỏi tiếng Anh của nhà trường đạt nhiều huy chương bạc, huy chương đồng trong kỳ thi IOE cấp quốc gia.

      Năm học 2016-2017, năm học thứ 30, trường đạt quy mô 30 lớp với 1308 học sinh. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên cũng có những đổi thay quan trọng. Tre già măng mọc, kẻ đến người đi, để giờ đây đã là 77 thành viên trong một tập thể đoàn kết, thống nhất mục tiêu và ý chí. Nối tiếp những người thầy đầu tiên, các thầy cô giáo hôm nay thực sự là những tay chèo vững chắc chở những chuyến đò đầy sang sông cập bến an toàn.

      Đến nay, trường có 22 Thạc sĩ; 2 giáo viên đang học cao học; 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhiều thầy cô trở thành tấm gương sáng trong sự nghiệp “trồng người”, là Chiến sĩ thi đua, được nhận Bằng khen của UBND tỉnh Thái Nguyên, Thành phố Sông Công, Bộ GD&ĐT, Huy chương vì Sự nghiệp giáo dục… Trường THPT Sông Công cũng đã được Chính phủ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Giáo dục và Công đoàn Giáo dục Việt Nam tặng bằng khen. Vinh dự và tự hào cho thầy và trò trường là Huân chương Lao động hạng 3 của Chính phủ, Bằng công nhận danh hiệu Trường đạt Chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-2010, và năm 2011 trường đạt tiêu chuẩn chất lượng cấp độ 3 – mức đánh giá chất lượng cao nhất đối với cấp THPT.

     Với THPT Sông Công hôm nay, ba mươi năm là một hành trình đủ dài để truyền thống được kế thừa và tiếp nối, bởi dù người đi trước hay người đến sau đều một lòng mong mỏi đắp xây mái trường này, để Sông Công mãi là nơi gắn kết tình đồng nghiệp, nghĩa thầy trò, vun trồng những cây đời mãi mãi tươi xanh.

      Tương lai còn ở phía trước, một trang sử mới lại được mở ra. Ngày mai đang chào đón, nhiều cơ hội sẽ đến, và thử thách đang đợi chờ. Chúng ta vững niềm tin rằng: Lịch sử của ngôi trường như một dòng sông chảy xuôi. Dòng sông ấy lặng lẽ đem phù sa bồi đắp cho đời, cho những vụ mùa bội thu, cho cây xanh trái ngọt… Đi qua những ngày mưa bão, ngôi trường dấu yêu kiêu hãnh vươn mình trong nắng gió, như cây bám rễ sâu vào lòng đất bật trào chồi xanh sức sống.

9

đoạn văn này rất hay giàu cảm xúc, cần được đem lên bảo tàng

( đã đọc chữ nào đâu )

13 tháng 8 2025

Bạn viết văn hay, có bố cục rõ ràng. Từ ngữ trong bài văn của bạn gợi tả, cảm xúc và có liên kết. Bài của bạn rất hay. =)

1. thông tin chungTên tác phẩm: Sơn Tinh - Thủy TinhThể loại: truyền thuyếtNguồn gốc: dân gian Việt Nam“Sơn Tinh – Thủy Tinh” là một truyền thuyết nổi tiếng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, phản ánh cuộc sống gắn bó với thiên nhiên của cư dân nông nghiệp thời xưa.2. Nội dung chínhCâu chuyện kể về cuộc kén rể của vua Hùng. Sơn Tinh – vị thần núi – đến trước và lấy được Mị...
Đọc tiếp

1. thông tin chung
Tên tác phẩm: Sơn Tinh - Thủy Tinh
Thể loại: truyền thuyết
Nguồn gốc: dân gian Việt Nam
“Sơn Tinh – Thủy Tinh” là một truyền thuyết nổi tiếng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, phản ánh cuộc sống gắn bó với thiên nhiên của cư dân nông nghiệp thời xưa.

2. Nội dung chính
Câu chuyện kể về cuộc kén rể của vua Hùng. Sơn Tinh – vị thần núi – đến trước và lấy được Mị Nương. Thủy Tinh đến sau, tức giận dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng năm nào cũng thất bại.

3. Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật

  • Giá trị nội dung: Tác phẩm phản ánh cuộc đấu tranh chống lũ lụt của người Việt cổ, đồng thời ca ngợi sức mạnh, trí tuệ và ý chí kiên cường của nhân dân.
  • Giá trị nghệ thuật: Tác phẩm sử dụng yếu tố tưởng tượng, kì ảo; xây dựng hình tượng nhân vật mang tính biểu tượng; ngôn ngữ giản dị, đậm chất dân gian.

4. Kết luận
Qua truyện, em thấy được tinh thần lạc quan, niềm tin và khát vọng chinh phục thiên nhiên của cha ông ta. Đây không chỉ là một câu chuyện hấp dẫn mà còn là bài học về lòng kiên trì, sự đoàn kết để vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

0