Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
Câu 1:
Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.
Câu 2:
Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"
– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.
– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.
Bình luận các ý kiến:
Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do
Câu 2: Biện pháp nghệ thuật là so sánh
Câu 3: Những câu thơ trên miêu tả rõ hình ảnh con người trước biển: dù bão dông, thiên nhiên khắc nghiệt như nào thì con người vẫn luôn lạc quan hướng về phía trước, con người vẫn bình thản, chịu đựng những đau thương, khó khăn thử thách
Câu 4: tình yêu quê hương biển cả được tác giả thể hiện qua đoạn trích: tác giả đã dành tình yêu tha thiết với que hương mình, dù có bão giông, gió lốc thì biển vẫn là nơi tìm về của những đứa con làng chài. Biển còn là nơi ông cha ta làm lên tất cả vì vậy tình yêu biển vả còn là sự biết ơn, chân trọng quá khứ.
Câu 1 : Đoạn trính trên được viết theo thể thơ : Tự do
Câu 2: Biện pháp tu từ được sử dụng : So sánh
Câu3 :
- Hình tượng biển ( thiên nhiên ) dù bão giông,khắc nghiệt thì những con người lao động không vì thế mà sợ hãi - đó là cách con người làm chủ được thiên nhiên,coi đó chỉ như một thử thách,một lẽ thường tình của mẹ thiên nhiên,họ vẫn bình thản,bản lĩnh,kiên cường trước những đau thương mà thiiên nhiên gây ra.
- Người lao động Việt Nam mạnh mẽ,cần cù,luôn lạc quan,kiên cường vượt qua khó khăn vững bước trên mặt biển
Câu 4 :
Qua đoạn trích,có thể thấy được rõ nét nhất 2 thứ : Tình cảm sâu nặng mà tác giả dành cho biển cả quê hương và sư trân trọng công lao của ông cha ta trong quá khứ.Tình cảm của tác giả dành cho biển cả quê hương rất sâu sắc,dẫu có khắc nghiệt, khó khăn nhưng biển vẫn là nơi nuôi sống những con người Việt Nam,là nhà,là nơi ta tìm về.Đặc biệt,tình yêu không chỉ thể hiện qua sự trân trọng quá khứ, biết ơn công lao cha ông ta,phát huy lại truyền thống dân tộc,tao nên sức mạnh đoàn kết giữa người với người
1 | Thể thơ: tự do |
2 | Hai hình ảnh nói đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo: - Gió rát mặt, Đá củ đậu bay, Nước ngọt hiếm… (Thí sinh chỉ ra đúng 2 hình ảnh được 0.5 điểm). |
3 | Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau. Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa: - Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…) - Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời. |
4 | - Tác giả thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ với cuộc sống của những người lính đảo. - Đồng thời cho thấy sự trân trọng những phẩm chất đáng quý: tinh thần lạc quan, ý chí nghị lực phi thường và tình yêu tổ quốc. -> Nhận xét về tình cảm: - Đây là những tình cảm chân thành, thể hiện trái tim yêu thương tinh tế, sâu sắc của tác giả. - Tình cảm của tác giả cũng là đại diện cho tất cả những người dân Việt Nam dành tình yêu thương, sự cảm phục gửi đến những người lính nơi đảo xa. |
Câu 1 :thể thơ tự do
Câu 2: Những hình ảnh thể hiện cho sự gian khó ở Trường Sa: đá san hô kê lên thành sân khấu, vài tấm tôn chôn mấy cánh gà, gió rát mặt, đảo thay hình dáng, sỏi cát bay như lũ chim hoang.
Câu 3:
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.
Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:
- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)
- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.
Câu 4 :Đoạn thơ trích trong bài "Lính đảo hát tình ca trên đảo" của tác giả Trần Đăng Khoa đã khẳng định được tinh thần lạc quan, tươi trẻ của những người lính hải đảo nơi Trường Sa khắc nghiệt cùng tinh thần yêu nước, hướng về tổ quốc của họ. Thật vậy, hình ảnh những người lính hải đảo hiện lên với tầm vóc vĩ đại và tình yêu bất biến dành cho tổ quốc. Đầu tiên, họ là những người lính bất chấp những khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt công việc. Điều kiện ở Trường Sa vô cùng khó khăn và khắc nghiệt: gió rát mặt, đảo thay đổi hình dạng, sỏi cát bay như lũ chim hoang. Ở nơi biển đảo hẻo lánh ấy, những người lính hải quân vẫn hiên ngang và cất lên bài hát của tuổi trẻ. Không những có phẩm chất kiên cường mà ta còn thấy được tinh thần tươi trẻ và yêu đời của những người lính ấy. Thứ hai, họ là những người lính khát khao cống hiến cho tổ quốc. Tình yêu của họ được gửi gắm vào lời hát và tiếng lòng của trái tim "Nào hát lên". Tình yêu ấy là động lực để họ "đứng vững" trước những khó khăn và họ còn muốn hát lên cho trời đất, mây nước biết. Tổ quốc đối với những người lính trẻ là thiêng liêng và vĩnh hằng biết nhường nào. Tóm lại, đoạn thơ cho ta thấy được phong thái yêu đời cùng tình yêu tổ quốc của những người lính hải đảo ấy.
1, nghị luận
2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.
3,
Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.
4,
Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.
câu1
Biển đảo – Nơi mà hàng triệu người đang luôn bảo vệ. Biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, vì vậy có muôn vàn trái tim ngày đêm hướng về biển đảo, dành tình yêu cho những người lính biển cùng các chiến sĩ, các lực lượng ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà. Những tưởng biển đảo bình yên với những con sóng nhẹ xô bờ, thế nhưng những ngày tháng này cả nước vẫn đang chống chịu với cơn sóng ngầm, bão giông, sóng gió chưa bao giờ lặng im trên mảnh đất xanh của Tổ quốc … Là một học sinh, bản thân em luôn mang trong tim tình yêu biển đảo, tình yêu và lòng khâm phục tới những người lính biển, những ngư dân chân chất nơi đảo xa. Có chút chạnh lòng, xót xa, lo lắng khi biển xanh dậy sóng,… em mong rằng biển đảo sẽ bình yên, rạng rỡ nụ cuoiw
Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết thanh niên và thanh niên học sinh nói riêng phải xác định phải giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển Đông. Thanh niên cần hưởng ứng và tích cực tham gia các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi xâm phạm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam. Thanh niên là hậu phương chỗ dựa tình cảm vững chắc đối với các lính biển đảo, bằng những việc làm thiết thực như gửi thư đến các lính hải đảo để chia sẻ động viên và tiếp sức cho các anh thêm nghị lực để trông giữ biển đảo. Điều quan trọng, thanh niên cần không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới, tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết để tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta cần sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.
Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của tuổi trẻ nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước
Câu 2
Truyện ngắn “ Vợ nhặt” của Kim Lân được sáng tác sau cách mạng tháng Tám nhưng lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945. Đặt trong bối cảnh ra đời của tác phẩm, nhà văn đã làm toát lên tấm long yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và khát vọng hạnh phúc của những người người khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả xây dựng thành công ở hình tượng nhân vật “bà cụ Tứ” – mẹ anh Tràng- người “nhặt vợ”.Bà cụ Tứ trước hết là người mẹ nghèo khổ đã già yếu với cái lưng “long khòng”, khẽ mắt “lèm nhèm “,”khuôn mặt bủng beo, u ám “. Những hành động cử chỉ của cụ “nhấp nháy hai con mắt”,”chậm chạp hỏi”, “lập cập bước đi”, “lật đật:, “lễ mễ” cũng thể hiện cụ là một người đã già, không còn khỏe mạnh. Hơn nữa người phụ nữ ấy còn bị đặt trong hoàn cảnh nghèo nàn, đói khổ mà cụ nói “ cuộc đời cực khổ dài đằng đẵng”.
Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện ở giữa truyện khi anh Tràng đưa vợ về nhà, nhưng nhân vật này vẫn thu hút được sự quan tâm của người đọc bởi những vẻ đẹp tâm hồn, tính cách.
Trong người mẹ già nua, đói khổ ấy có một tình yêu thương dành cho con cái sâu sắc. Cụ thương người con trai của mình “cảm thấy ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”. Trong kẽ mắt kèm nhàm của cụ rỉ ra hai dòng nước mắt. Cụ đã sớm lo lắng cho cuộc sống tương lai của đứa con mình” không biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói này không”. Bà còn dành tình yêu thương cho người con dâu mới của mình. Bà nhìn thị nghĩ :”Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy con mình, con mình mới có vợ được”. Đó là tấm lòng người mẹ không khinh rẻ mà tỏ ra thông cảm thấu hiểu hoàn cảnh con dâu, thậm chí bà còn cho đó là may mắn của con trai mình, gia đình mình khi có con dâu mới. Điều đo chứng tỏ bà cụ Tứ rất hiểu mình, hiểu người. Tình yêu thương còn thể hiên qua những lời nói của bà cụ dành cho con “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?…". Bà nói với con dâu bằng lời của một người từng trải – vừa lo lắng, vừa thương xót, đồng thời động viên con bằng triết lý dân gian”ai giàu ba họ ai khó ba đời, hướng con tới tương lai tươi sáng. "… Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…". Câu nói thể hiện tấm long thương xót cho số phận của những đứa con. Và để ngày vui của các con thêm trọn vẹn, sáng hôm sau cụ” xăm xắn quét tước nhà cửa”. Hành động giản dị thôi nhưng thể hiện tấm lòng người mẹ tuy nghèo nhưng hết lòng thương yêu con. Và thế là đám cưới không nghi lễ, không đón đưa của đôi vợ chồng trẻ được chan đầy bằng tình yêu thương và tấm long lo lắng của người mẹ nghèo.
Nhân vật bà cụ Tứ bị đặt trong hoàn cảnh éo le, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan của người mẹ già yếu, tuy sắp đến độ gần đất xa trời nhưng luôn hướng về tương lai thể hiện qua những hành động và lời nói. Cụ tin vào triết lý dân gian: ai giàu ba họ ai khó ba đời- lạc quan về một ngày mai tươi sáng.Cụ đồng tình khi thấy Tràng thắp đèn mặc dù cụ biết lúc đó dầu rất đắt, dầu là thứ xa xỉ. Nếu để ý ta sẽ thấy chính bà lão “gần đất xa trời”này lại là người nói về tương lai nhiều nhất” cụ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Đó không đơn thuần chỉ là niềm lạc quan của người lao động mà còn là ước mơ về cuộc sống có phần tươi sáng hơn cho các con. Bà cụ trông cũng” tươi tỉnh khác hẳn ngày thường”. Chính tâm trạng vui tươi phấn khởi của người mẹ già đã làm sáng lên cái không gian u ám và góp phần vào ngày vui trọng đại của cuộc đời người con trai. Sáng hôm sau cụ xăm xắn quét dọn nhà cửa, đó là những công việc sinh hoạt thường ngày nhưng đặt trong hoàn cảnh này, hành động quét dọn làm nhà cửa trông sạch sẽ, tinh tươm hơn giống như cụ đang muốn tự tay quét đi những tăm tối của ngày cũ và đón chờ những điều tươi sáng hơn. Và hình ảnh người mẹ già, cười đon đả: “Cám đây mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy", cứ quẩn quanh, ám ảnh tâm chí người đọc. Cái lạc quan không những không bị mất đi mà lại càng trở nên mãnh liệt hơn trong mưa nắng cuộc đời. Trong buổi sáng đầu tiên đón tiếp nang dâu mới, nồi cháo cám “ chát xít, nghẹn bứ trong miệng” mà ngon ngọt trong long, ngọt bởi tâm lòng người mẹ nghèo đang cố xua đi cái không khí ảm đạm bằng thái độ lạc quan và sự tươi tỉnh động viên con cố gắng vượt qua hoàn cảnh. Nhưng sự thật là vị đắng ngắt của cháo cám và tiếng thúc thuế từ xa vọng lại đã không làm niềm vui nhỏ của những con người nghèo khổ cất cánh lên được.
Bằng tài năng và tấm lòng đồng cảm sâu sắc, Kim Lân đã dựng lên “hình ảnh chân thật và cảm động về người mẹ nông dân nghèo khổ trong trận đói khủng khiếp năm 1945". Nhân vật bà cụ Tứ được khắc họa chủ yếu qua sự vận động trong nội tâm nhân vật. Ngoài ra, qua những lời nói, cử chủ, hành động của nhân vật ta cũng có thể cảm nhận được tấm lòng yêu thương con sâu sắc. Ở bà cụ Tứ thấp thoáng hình ảnh của nhân vật lão Hạc, của mẹ Dần, vợ chồng Dần ( Nam Cao) những người nông dân nghèo nhưng chỉ sống vì con, hết lòng yêu thương con. Dẫu chỉ là một nhân vật phụ nhưng bằng tài năng, và tình cảm thiết tha trừu mến đối với tấm lòng người mẹ nghèo, Kim Lân đã khắc họa được chân dung nhân vật vừa sinh động, chân thực, vừa cảm động, day dứt với người đọc. Chính những hành động, lời nói của cụ, nụ cười trên khuôn mặt bủng beo u ám đã làm sáng bừng thiên truyện sau cái tối tăm, cái bế tắc của đói nghèo. Ý nghĩa nhân bản mà nhà văn muốn gửi gắm qua nhân vật này là con người dù có đặt vào hoàn cảnh khốn cùng, cận kề cái chết nhưng vẫn không mất đi những giá trị tinh thần và phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu thương con người và thái độ lạc quan hi vọng vào tương lai tươi sáng dù cho chỉ có một tia hi vọng mỏng manh. Kim Lân đã khám phá và thể hiện thành công điều đó ở nhân vật bà cụ Tứ. qua đó thể hiện rõ tấm lòng nhân hậu , bao dung, tình yêu thương con của bà cụ Tứ
Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại khi viết về chủ đề người nông dân dưới xã hội cũ, đặc biệt là trong giai đoạn đau thương nhất của đất nước. Tuy nhiên trong tác phẩm nội dung chính mà tác giả muốn đề cập đến không phải là phản ánh, tố cáo hiện thực mà là tấm lòng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người, cùng với sức mạnh của tình người, tình thân trong gia định đã trở thành cơ sở cho những khát vọng sống, niềm hy vọng và tin tưởng vào tương lai mãnh liệt ngay trong những hoàn cảnh khốn cùng nhất. Bên cạnh hai nhân vật là Tràng và thị với những nét phẩm chất riêng, thì nhân vật cụ Tứ lại hiện lên với vẻ đẹp của tình mẫu tử, thương con sâu sắc.
Giữa nạn đói hoành hành năm 1945, hàng triệu đồng bào ta phải chịu chết đói, nhiều người phải lìa xa quê cha đất tổ đi tha hương cầu thực nơi xứ người, mẹ con bà cụ Tứ là một trong số đó. Bà cụ là một phụ nữ nông dân nghèo khổ, có lẽ rằng cả cuộc đời bà đã phải chịu nhiều đắng cay vất vả, bởi lẽ cả cuộc đời bà nằm trọn trong những ngày tháng đất nước chất chứa nhiều đau thương, lầm than dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Cả cuộc đời bà dành để kiếm từng đồng, từng hào chắt bóp nuôi con khôn lớn, cho đến khi tuổi đã gần đất xa trời, bà cụ tội nghiệp vẫn không được hưởng những ngày tháng sung sướng. Thay vào đó cụ vì già cả, ốm yếu phải sống dựa vào đứa con trai là anh Tràng với một công việc bấp bênh, bữa đói bữa no, và bên ngoài kia thần chết đang chực chờ những con người khốn khổ, cùng đường vì cái đói, trong đó có cả hai mẹ con bà cụ Tứ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy tình mẫu tử của bà cụ lại càng hiện lên rõ rệt, cả đời làm lụng nuôi con khôn lớn, đến khi Tràng đã lớn khôn thì bà cụ lại sầu khổ vì không kiếm nổi cho con một tấm vợ, một người đàn bà đỡ đần hôm sớm. Tất cả chỉ tại bà nghèo quá, người ta cưới vợ khi có của ăn của để, khi ăn nên làm ra, còn bà lại chẳng có gì trong tay thành thử phải tội con bà cô đơn lẻ bóng. Mà có khi đến lúc mà mất đi thì đứa con trai tội nghiệp lại phải chịu cảnh côi cút một mình trên đời. Điều ấy làm bà cụ Tứ tủi phận nhiều lắm.
Cho đến một hôm thấy Tràng dẫn một người phụ nữ lạ mặt về nhà, trong lòng bà cụ nổi lên biết bao nhiêu là cớ sự thắc mắc, thế nhưng bà không hề tỏ ra bối rối mà quay sang nhìn con tỏ ý không hiểu, để chờ Tràng giải thích, để cho Tràng có cơ hội được phân trần câu chuyện, chứ không lên tiếng trách móc. Đó là tấm lòng của một người mẹ trải đời, thương con bằng một tình thương dịu dàng, săn sóc. Rồi đến khi đã rõ sự mười mươi, bà cụ "hiểu ra bao nhiêu là cớ sự" rồi thì bà im lặng, những dòng suy nghĩ chảy trôi, quẩn quanh liên tục bên ngoài cái sự việc con bà lấy vợ, một người vợ theo không. Nhưng không chần chừ quá lâu, bà cụ Tứ đã sống trên cuộc đời này ngót nghét vài chục năm trời đằng đẵng, có cái khổ, cái sự lạ nào mà bà không hiểu thấu. Đứng trên vai trò là một người mẹ có tấm lòng thương con sâu sắc, bà hiểu được chuyện anh Tràng lấy vợ âu cũng là chuyện hợp tình hợp lý, bởi Tràng đã đến cái tuổi ấy lâu lắm rồi. Thế nhưng vừa nghĩ thông chuyện này thì bà cụ lại chợt nghĩ đến chuyện khác, bao nhiêu mối lo toan bỗng đổ dồn về lòng người mẹ già tội nghiệp, bà thương con "ai oán xót thương cho số kiếp con trai mình", cũng lại tủi cho phận người làm mẹ, nhưng không thể lo nổi cho con một cái đám cưới, dựng vợ gả chồng tử tế cho con, để nó phải tự thân đi kiếm về một người vợ. Càng nghĩ bà lại càng lấy làm buồn lòng, xúc động "trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt". Ấy rồi ăn ở với nhau như thế "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không", là những suy nghĩ quẩn quanh trong lòng bà cụ Tứ. Một người mẹ thương con không nề hà, trách mắng con mình tự tiện cưới gả, bởi bà hiểu phận mình và phận con, bà chỉ lo lắng mãi chuyện cuộc sống tương lai của hai vợ chồng Tràng, sợ con chịu khổ cực, rồi đương không lại liên lụy cả người khác nữa. Cái đám cưới chớp nhoáng khác thường này đem đến cho cụ niềm vui có dâu con, nhưng cũng lại mang đến cho bà biết bao nhiêu trăn trở, rối rắm. u cũng là lòng người mẹ yêu thương và suy nghĩ cho con trăm bề. Cuối cùng sau khi đã đi qua những xúc động, buồn tủi, bà cụ Tứ đã nhanh chóng vực lại tinh thần, thông suốt mọi vấn đề rằng "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mấy lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được. Thôi bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con...Chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?". Bà nhanh chóng thấu hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh đáng thương của thị, đồng thời lòng bà đã dấy lên những tình cảm thương yêu người con dâu mới về. Bà nhẹ nhàng giục thị ngồi xuống, rồi nhỏ nhẹ khuyên giải, nhắc nhở động viên, vun vén vào cho hai vợ chồng Tràng, dặn dò họ cách ăn ở với nhau bằng những lời phấn khởi "Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?". Mặc dầu rằng trong lòng bà vẫn còn trăm mối tơ vò cảm xúc, nhưng không vì thế mà bà làm các con bối rối, mất vui, bà quyết giữ cho riêng bà những lo lắng, những buồn tủi để cho đôi tân nhân một sự động viên trước khi bước vào cuộc đời mới.
Sau đêm tân hôn của vợ chồng Tràng, căn nhà tàn tạ dưới đôi bàn tay của mẹ chồng nàng dâu bỗng trở nên sáng sủa lạ thường, thấy được những đức tính tốt đẹp, sự cẩn thận chu đáo của thị và cụ mừng lắm "cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Trong bữa cơm sáng, dẫu rằng mâm cơm ngày đói kém trông thật thảm hại với mớ rau chuối thái mỏng và cháo loãng thế nhưng không khí trong nhà vẫn rất vui vẻ đầm ấm. Bà cụ thương con, thương dâu, thành thử bà cố xua đi cái nghèo đói đang hiện hữu trước mắt cặp tân nhân bằng cách liên tục kể những chuyện vui, kế hoạch làm ăn, nuôi gà, mở ra trước mắt những tương lai tốt đẹp đầy hy vọng. Đặc biệt người mẹ nghèo khó còn chiêu đãi con trai và con dâu bằng một nồi "chè khoán", mà thực tế đó là là cháo cám để mừng tân hôn. Dù vị của món ăn này vô cùng cùng khó ăn thế nhưng đó là cả tấm lòng của một người mẹ thương con, bà cụ tội nghiệp vì nghèo xác xơ không lấy gì để làm cỗ làm bàn, thế nên chỉ còn cách cố kiếm cho được ít cám về nấu làm món ăn đổi bữa. Ở một nét suy diễn sâu xa nào đó thì nồi cháo cám còn mang ý nghĩa là lời nhắc nhở của cụ Tứ dành cho các con về những ngày gian khó đang chờ đợi trước mắt, hy vọng rằng vợ chồng Tràng vẫn được vững lòng như ngày hôm nay, ăn nồi cháo cám đắng ghét, nghẹn ứ nơi cổ họng mà vẫn cảm thấy vui vẻ hạnh phúc.
Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt là một hình tượng tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam xưa, cả cuộc đời hy sinh sinh vì con cái, yêu thương con sâu sắc bằng những tình cảm thấu hiểu, bao dung và vị tha. Dù rằng bà sống trong cảnh nghèo khó tột cùng, thế nhưng với sự từng trải của mình bà vẫn giành lấy được những sự lạc quan, vui vẻ trong cuộc sống, trở thành kim chỉ nam hướng vợ chồng Tràng đến một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.


1.
Động lực để nỗ lực mỗi ngày của người trẻ là yếu tố vô cùng quan trọng trên hành trình trưởng thành và khẳng định bản thân. Trong cuộc sống, ai cũng có những ước mơ, hoài bão riêng, và chính những mục tiêu ấy trở thành động lực giúp ta cố gắng không ngừng. Động lực có thể đến từ mong muốn có một tương lai tốt đẹp hơn, từ khát vọng thành công, được sống với đam mê hoặc đơn giản là để làm cha mẹ tự hào. Đối với người trẻ, động lực còn đến từ ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Khi có động lực, con người sẽ biết vượt qua khó khăn, không dễ bỏ cuộc trước thử thách. Ngược lại, nếu sống thiếu mục tiêu, người trẻ rất dễ rơi vào trạng thái chán nản, lười biếng và mất phương hướng. Tuy nhiên, động lực không chỉ nằm ở những điều lớn lao mà còn bắt đầu từ những việc nhỏ mỗi ngày như học tập chăm chỉ, sống tích cực và biết hoàn thiện bản thân. Vì vậy, mỗi người trẻ cần tự tìm cho mình một lý do đủ mạnh để cố gắng, bởi chỉ khi có động lực, chúng ta mới thật sự tiến xa trên con đường của mình.
2-
Trong đoạn thơ trích từ bài Thời gian trắng, nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai đã thể hiện sâu sắc hình ảnh người lính già Trường Sơn cùng những suy tư đầy xúc động về chiến tranh, hòa bình và sự lãng quên của con người trước quá khứ. Đoạn thơ không chỉ là lời tri ân đối với thế hệ đi trước mà còn là lời nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm gìn giữ ký ức lịch sử dân tộc.
Trước hết, hình ảnh người lính già hiện lên thật giản dị nhưng đầy ám ảnh. Trong lời kể của ông, tác giả như cảm nhận được cả một quá khứ hào hùng của dân tộc: “Nghe gió Trường Sơn thổi về từ mái tóc bồng bềnh điểm bạc”, “Nghe tiếng súng xuyên về từ ngày tôi chưa sinh”. Những hình ảnh giàu sức gợi ấy đã kết nối hiện tại với quá khứ, giúp người đọc hình dung về những năm tháng chiến tranh khốc liệt mà thế hệ sau chưa từng trải qua. Mái tóc bạc, đôi vai gầy guộc không chỉ là dấu vết của thời gian mà còn là minh chứng cho những hi sinh thầm lặng của người lính năm xưa.
Bên cạnh đó, đoạn thơ còn khắc họa chiều sâu tâm trạng của người lính già. “Giọt mưa xa” trong mắt ông là hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng, chứa đựng bao cảm xúc đan xen: vị ngọt của chiến thắng, vị đắng của những mất mát không thể bù đắp, vị mặn của nỗi trăn trở và vị cay của cuộc sống đời thường. Những hương vị ấy gợi lên cả một cuộc đời từng đi qua bom đạn, chiến đấu vì Tổ quốc nhưng khi trở về lại lặng lẽ đối diện với sự lãng quên của thời gian. Câu hỏi day dứt: “rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn” không chỉ là nỗi niềm riêng của người lính mà còn là tiếng lòng chung của cả một thế hệ.
Đặc biệt, đoạn thơ là lời cảnh tỉnh về sự vô tâm của con người trong cuộc sống hiện đại. Nhịp sống “tấp nập chảy quanh tôi” khiến con người chỉ biết “vươn mình / về phía trước”, mải mê với hiện tại mà vô tình quên đi quá khứ. Điệp từ “Quên đi” được lặp lại nhiều lần như một lời trách móc, day dứt. Đó là sự quên lãng những người lính đã hi sinh tuổi xuân cho đất nước, quên những câu chuyện cần được kể để thế hệ sau hiểu và trân trọng hòa bình hôm nay. Hình ảnh “người lính già bé nhỏ / cạnh ngã tư đường” khiến người đọc không khỏi xót xa, bởi giữa dòng đời hối hả, những con người từng làm nên lịch sử dường như trở nên nhỏ bé và lặng lẽ.
Về nghệ thuật, đoạn thơ nổi bật với thể thơ tự do, ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc. Biện pháp điệp từ, liệt kê cùng những hình ảnh mang tính biểu tượng đã góp phần khắc họa sâu sắc tâm trạng nhân vật trữ tình. Giọng thơ vừa tha thiết, vừa suy tư, lắng đọng đã tạo nên sức ám ảnh mạnh mẽ trong lòng người đọc.
Tóm lại, đoạn thơ trong Thời gian trắng không chỉ ca ngợi vẻ đẹp và sự hi sinh của người lính Trường Sơn mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng biết ơn và trách nhiệm nhớ về quá khứ. Đó là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng lịch sử, sống có trách nhiệm với hiện tại và tương lai của đất nước.
Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Động lực để người trẻ nỗ lực mỗi ngày không phải lúc nào cũng là những mục tiêu lớn lao, mà thường bắt đầu từ những điều rất giản dị: mong muốn sống tốt hơn hôm qua, không phụ kỳ vọng của gia đình, và khát khao khẳng định giá trị bản thân. Trong một thế giới nhiều biến động, động lực còn đến từ ý thức về thời gian hữu hạn—nếu không hành động hôm nay, ta sẽ tụt lại phía sau. Bên cạnh đó, những tấm gương nỗ lực, những câu chuyện vượt khó truyền cảm hứng cũng góp phần “đánh thức” ý chí bên trong mỗi người. Tuy nhiên, động lực bền vững không chỉ dựa vào cảm hứng nhất thời, mà cần được nuôi dưỡng bằng kỷ luật: đặt mục tiêu rõ ràng, chia nhỏ hành trình, kiên trì theo đuổi dù gặp trở ngại. Người trẻ cũng cần học cách cân bằng, tránh so sánh tiêu cực khiến bản thân mất phương hướng. Khi hiểu mình muốn gì, vì sao phải cố gắng và biết trân trọng từng bước tiến nhỏ, động lực sẽ không còn là thứ mong manh, mà trở thành sức mạnh nội tại giúp ta tiến về phía trước mỗi ngày.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Đoạn thơ trong “Thời gian trắng” của Nguyễn Phan Quế Mai gợi mở một không gian ký ức đầy ám ảnh, nơi quá khứ chiến tranh và hiện tại đời thường giao thoa, từ đó đánh thức trong người đọc nỗi trăn trở về sự lãng quên. Qua hình ảnh người lính già và dòng chảy thời gian, tác giả không chỉ kể một câu chuyện, mà còn đặt ra câu hỏi nhức nhối về thái độ của con người hôm nay đối với những hi sinh đã làm nên hòa bình.
Mở đầu đoạn thơ là hình ảnh “tôi” ngồi sau xe, lắng nghe câu chuyện của người lính già. Những cảm nhận được triển khai qua điệp từ “nghe” tạo nên nhịp điệu trầm lắng, như một hành trình đi ngược về quá khứ. “Gió Trường Sơn”, “nắng miền Trung”, “tiếng súng” không chỉ là những yếu tố thiên nhiên hay âm thanh, mà còn là ký ức sống động của một thời chiến tranh khốc liệt. Đặc biệt, hình ảnh “mái tóc bồng bềnh điểm bạc” và “đôi vai gầy guộc” gợi lên sự tàn phá của thời gian đối với con người, đồng thời làm nổi bật sự hi sinh thầm lặng của người lính năm xưa.
Cao trào cảm xúc được đẩy lên qua hình ảnh “giọt mưa xa”. Đây là một ẩn dụ giàu sức gợi, chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa: đó là ký ức, là nước mắt, là những trải nghiệm đắng cay và vinh quang của chiến tranh. Tác giả tinh tế phân tích “vị” của giọt mưa: “vị ngọt chiến thắng”, “vị đắng cuộc chiến”, “vị mặn trăn trở”, “vị cay của cuộc sống đời thường”. Sự kết hợp các giác quan đã làm nổi bật tính đa chiều của ký ức: chiến tranh không chỉ có hào quang mà còn đầy mất mát, đau thương. Đặc biệt, câu hỏi “rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn” vang lên như một lời tự vấn, thể hiện nỗi lo lắng về sự lãng quên của thế hệ sau.
Từ quá khứ trở về hiện tại, đoạn thơ chuyển sang nhịp điệu gấp gáp với hình ảnh “cuộc sống đời thường tấp nập chảy quanh tôi”. Con người hiện đại dường như chỉ biết “vươn mình về phía trước”, mải mê với nhịp sống mà quên đi những giá trị đã làm nên hiện tại. Điệp ngữ “quên đi” được lặp lại nhiều lần như một lời cảnh tỉnh mạnh mẽ. Đó không chỉ là sự quên lãng cá nhân, mà là nguy cơ mất đi ký ức tập thể, đánh mất lòng biết ơn đối với quá khứ.
Kết thúc đoạn thơ là hình ảnh “người lính già bé nhỏ / cạnh ngã tư đường / thời gian trắng qua đôi bàn tay”. “Ngã tư đường” gợi sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại, giữa ký ức và đời sống. “Thời gian trắng” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo: màu trắng có thể là sự xóa nhòa, là khoảng trống của ký ức, là sự vô tình của con người trước những hi sinh đã qua. Hình ảnh đôi bàn tay như để mặc cho thời gian trôi qua càng làm tăng cảm giác xót xa, tiếc nuối.
Về nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng linh hoạt các biện pháp như điệp từ, ẩn dụ, chuyển đổi cảm giác, tạo nên giọng điệu vừa tha thiết vừa day dứt. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với nhân vật trữ tình.
Qua đoạn thơ, Nguyễn Phan Quế Mai gửi gắm một thông điệp sâu sắc: quá khứ không được phép bị lãng quên. Những hi sinh của thế hệ đi trước cần được ghi nhớ và trân trọng, không chỉ bằng lời nói mà bằng thái độ sống có trách nhiệm. Đó cũng là lời nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết dừng lại giữa nhịp sống vội vã để lắng nghe, để nhớ, và để biết ơn.
Câu 1.
Động lực là yếu tố quan trọng giúp người trẻ không ngừng nỗ lực mỗi ngày. Trong một thế giới cạnh tranh và biến động, nếu thiếu động lực, con người rất dễ rơi vào trạng thái trì trệ, mất phương hướng. Động lực có thể đến từ ước mơ, khát vọng khẳng định bản thân hoặc đơn giản là mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Khi có mục tiêu rõ ràng, mỗi hành động nhỏ hằng ngày đều trở nên có ý nghĩa, giúp ta tiến gần hơn tới thành công. Tuy nhiên, động lực không phải lúc nào cũng bền vững, nó có thể bị lung lay bởi khó khăn, thất bại. Vì vậy, người trẻ cần học cách tự tạo động lực cho bản thân bằng việc kiên trì, kỷ luật và giữ vững niềm tin. Bên cạnh đó, môi trường sống tích cực, sự ủng hộ từ gia đình và bạn bè cũng góp phần nuôi dưỡng động lực. Nỗ lực mỗi ngày, dù nhỏ bé, nhưng tích lũy lâu dài sẽ tạo nên những thay đổi lớn. Khi có động lực, con người không chỉ vượt qua giới hạn của chính mình mà còn khám phá được những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.
Câu 2
Trong bài thơ Thời gian trắng, Nguyễn Phan Quế Mai đã khắc họa một cuộc gặp gỡ đầy ám ảnh giữa cái tôi trữ tình và một người lính già Trường Sơn, qua đó gợi lên những suy tư sâu sắc về ký ức chiến tranh và sự lãng quên của con người hiện đại. Đoạn thơ mở ra bằng hình ảnh “Tôi ngồi sau xe / Lắng nghe ông kể chuyện” – một tình huống giản dị nhưng giàu ý nghĩa. Từ “nghe” được lặp lại nhiều lần tạo nên nhịp điệu trầm lắng, như dòng hồi ức đang dần mở ra.
Những gì người lính kể không chỉ là câu chuyện cá nhân mà là cả một thời kỳ lịch sử. “Nghe gió Trường Sơn”, “nghe nắng miền Trung”, “nghe tiếng súng xuyên về từ ngày tôi chưa sinh” – đó là những hình ảnh vừa cụ thể vừa mang tính biểu tượng. Thiên nhiên và chiến tranh hòa quyện, tạo nên một không gian ký ức rộng lớn, nơi quá khứ vẫn còn vang vọng. Đặc biệt, chi tiết “từ ngày tôi chưa sinh” nhấn mạnh khoảng cách thế hệ, đồng thời cho thấy những hy sinh ấy thuộc về một thời mà thế hệ sau chỉ có thể “nghe” lại.
Hình ảnh “giọt mưa” mang nhiều tầng ý nghĩa: đó là giọt nước mắt, là ký ức, là vị ngọt của chiến thắng nhưng cũng là vị đắng của mất mát. Sự đối lập “ngọt – đắng – mặn – cay” thể hiện trọn vẹn dư vị của chiến tranh còn đọng lại trong lòng người lính. Đáng chú ý là câu hỏi đầy trăn trở: “rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn”. Đây không chỉ là nỗi niềm riêng mà còn là lời cảnh tỉnh đối với hiện tại.
Phần cuối đoạn thơ chuyển giọng rõ rệt. Nhịp sống hiện đại “tấp nập chảy quanh tôi” khiến con người chỉ biết “vươn mình về phía trước” mà “quên đi” quá khứ. Điệp từ “quên đi” lặp lại như một lời tự vấn, đồng thời phê phán sự vô tâm của con người trước những hy sinh lớn lao. Hình ảnh “người lính già bé nhỏ / cạnh ngã tư đường” gợi lên sự đối lập giữa quá khứ hào hùng và hiện tại lặng lẽ, khiến người đọc không khỏi xót xa.
Đoạn thơ không chỉ là lời kể mà còn là lời nhắc nhở: đừng để “thời gian trắng” xóa nhòa ký ức. Qua đó, tác giả khẳng định giá trị của sự tri ân và trách nhiệm của thế hệ hôm nay trong việc gìn giữ quá khứ.
Cầu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:
Động lực để nỗ lực mỗi ngày của người trẻ.
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo những nội dung sau:
có dũng khí và bản lĩnh đối mặt và vượt qua khó khăn; không thoả hiệp với tâm lí "vừa đủ"...
- Mỗi người có động lực riêng để nỗ lực mỗi ngày:
Gợi ý: Động lực để kiên trì nỗ lực mỗi ngày có thể là:
+ Ước mơ và khát vọng tương lai: Mong muốn
người trẻ không chỉ là thành công cá nhân, mà cao hơn là khát vọng khẳng định bản thân và trách nhiệm với gia đình, cộng đồng. Nỗ lực là cách người trẻ tôn trọng thanh xuân, biến thời gian thành giá trị hữu hình thay vì sống hoài, sống phí. Đó còn là sự tri ân thế hệ đi trước qua việc tiếp nối sứ mệnh xây dựng đất nước bằng tri thức. Động lực bền vững nhất xuất phát từ nội lực—mong muốn tốt hơn chính mình ngày hôm qua, để không chỉ "tồn tại" mà là "sống" rực rỡ, sẵn sàng vượt qua khó khăn, hướng về phía trước. [1, 2] Câu 2 (4,0 điểm) Bài làm: Phân tích đoạn thơ trong "Thời gian trắng" - Nguyễn Phan Quế Mai Nguyễn Phan Quế Mai là tiếng thơ nặng tình với quê hương, nổi bật với khả năng khơi gợi ký ức và khắc họa nỗi lo âu về sự lãng quên trong xã hội hiện đại. Bài thơ "Thời gian trắng" in trong tập "Tổ quốc gọi tên mình" là một nốt trầm sâu lắng, phân tích sâu sắc cuộc gặp gỡ giữa nhà thơ và một cựu chiến binh Trường Sơn. Đoạn thơ: "Tôi ngồi sau xe... qua đôi bàn tay" đã tái hiện một không gian hoài niệm xúc động, đồng thời cảnh tỉnh về sự vô tình của thời gian và cuộc sống đối với những hi sinh thầm lặng. [1] Mở đầu đoạn thơ là khung cảnh bình dị nhưng đầy ám ảnh:
"Tôi ngồi sau xe / Lắng nghe ông kể chuyện"
Hình ảnh người lính già Trường Sơn, nay mưu sinh bằng nghề xe ôm, đưa người đọc về quá khứ qua những chi tiết tả thực đầy sức gợi. "Mái tóc bồng bềnh điểm bạc" là dấu vết của thời gian và chiến tranh, còn "đôi vai gầy guộc" lại mang nặng "nắng miền Trung". Phép nhân hóa "nắng miền Trung hát" kết hợp với âm hưởng "tiếng súng xuyên về" gợi lên một Trường Sơn hùng vĩ nhưng khốc liệt. Nhân vật "tôi" lắng nghe không chỉ bằng tai mà bằng cả tâm hồn, kết nối thế hệ "chưa sinh" với thế hệ đã hiến dâng tuổi xuân. Sự chuyển biến cảm xúc diễn ra tinh tế qua "giọt mưa xa":
"Người lính già / Đem giọt mưa xa về mắt tôi"
Giọt mưa ấy là sự kết tinh của "vị ngọt chiến thắng" - niềm tự hào dân tộc, và "vị đắng cuộc chiến" - nỗi đau mất mát, thương vong. Đặc biệt, "vị mặn trăn trở – 'rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn'" là nỗi niềm đau đáu về sự lãng quên. Câu hỏi tu từ ấy như một tiếng thở dài, nhắc nhở về trách nhiệm của hậu thế đối với lịch sử. [1] Đối lập với quá khứ hào hùng là nhịp sống hối hả của hiện tại:
"Và, vị cay của cuộc sống đời thường / tấp nập chảy quanh tôi như chỉ biết vươn mình về phía trước"
"Vị cay" đối lập với "vị ngọt", thể hiện sự khốc liệt của cuộc mưu sinh. Điệp từ "về phía trước", "quên đi" kết hợp với nhịp thơ nhanh tạo nên cảm giác lo âu về sự lãng quên. "Thời gian trắng" - cụm từ nhan đề, được nhắc lại ở cuối, tượng trưng cho những khoảng thời gian bị lãng quên, xóa nhòa, nơi những câu chuyện oanh liệt bị bỏ lại phía sau bởi sự bận rộn. Người lính già "bé nhỏ" bên "ngã tư đường" là hình ảnh đầy xót xa, biểu tượng cho những người anh hùng bị thời gian lãng quên. [1] Đoạn thơ là một nốt lặng cần thiết trong cuộc sống hiện đại, nhắc nhở về giá trị của hòa bình và sự hi sinh. Nguyễn Phan Quế Mai đã thành công khi sử dụng ngôn ngữ thơ tự do, hình ảnh ẩn dụ độc đáo để thể hiện trăn trở về trách nhiệm và sự ghi nhớ. Đoạn thơ không chỉ là bài ca tri ân, mà còn là lời cảnh tỉnh mỗi người hãy sống chậm lại, trân trọng quá khứ để xây dựng tương lai vững chắc
câu 1
Trong hành trình trưởng thành đầy thử thách, "động lực" chính là nguồn nhiên liệu quý giá nhất giúp người trẻ không ngừng tiến về phía trước. Động lực không chỉ là những yếu tố thúc đẩy bên ngoài mà còn là sức mạnh nội tại khiến chúng ta kiên trì theo đuổi mục tiêu, không thỏa hiệp với tâm lý "vừa đủ". Với mỗi cá nhân, nguồn động lực này có thể đến từ những khát khao khác nhau: đó là ước mơ chinh phục đỉnh cao sự nghiệp để khẳng định giá trị bản thân trong xã hội, hay đơn giản là mong muốn đền đáp công ơn, trở thành niềm tự hào của gia đình. Đôi khi, động lực còn bắt nguồn từ sự ngưỡng mộ những tấm gương thành đạt, từ đó thôi thúc ta hoàn thiện mình để trở thành phiên bản tốt hơn của ngày hôm qua. Khi có động lực đủ lớn, người trẻ sẽ có đủ dũng khí và bản lĩnh để đối mặt với khó khăn, biến những áp lực thành kim cương. Tóm lại, việc xác định được động lực đúng đắn không chỉ giúp chúng ta nỗ lực mỗi ngày mà còn góp phần cống hiến những giá trị tích cực cho cộng đồng và đất nước.
câu 2
Nguyễn Phan Quế Mai là một cây bút giàu lòng trắc ẩn, luôn đau đáu với những giá trị nhân văn và lịch sử. Trong số những tác phẩm tiêu biểu của bà, "Thời gian trắng" để lại dấu ấn sâu sắc bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự và trữ tình. Đoạn thơ không chỉ là dòng hồi ức về những năm tháng chiến tranh gian khổ mà còn là tiếng lòng trăn trở về sự vô tình của con người trước những hy sinh của thế hệ đi trước giữa dòng đời hối hả hôm nay.Mở đầu đoạn thơ, tác giả dẫn dắt người đọc vào dòng hồi ức của một người lính già. Qua lời kể, những năm tháng chiến tranh hiện lên đầy khốc liệt với "gió Trường Sơn", "nắng miền Trung" và "tiếng súng nổ". Những hình ảnh ấy không chỉ là bối cảnh mà còn là biểu tượng cho một thời kỳ lịch sử hào hùng, nơi vẻ đẹp của những người lính cách mạng tỏa sáng rực rỡ nhất. Tác giả đã khéo léo kết nối quá khứ với hiện tại qua câu thơ đầy ám ảnh: "Nghe tiếng súng xuyên về từ ngày tôi chưa sinh". Tiếng súng ấy không còn là âm thanh của vũ khí mà là nhịp đập của lịch sử, nhắc nhở thế hệ hôm nay về nguồn cội của nền hòa bình đang có.Lắng nghe câu chuyện của người lính, người viết không khỏi xúc động và tự hào. Sự hy sinh của các anh đã tạo nên "vị ngọt chiến thắng" cho dân tộc, ghi tên mình vào trang sử vàng. Tuy nhiên, đằng sau niềm tự hào ấy lại là nỗi xót xa, day dứt. Tác giả nhận ra rằng, giữa cuộc sống tất bật, "thời gian trắng" đang dần xóa nhòa những ký ức thiêng liêng. Hình ảnh "thời gian trắng" mang tính biểu tượng cao, gợi lên sự trống rỗng, vô tình khi con người mải mê với cuộc sống hiện tại mà quên đi những câu chuyện cần được kể lại. Nỗi lo về sự "lãng quên" của thế hệ trẻ, sự thờ ơ với những thân phận người lính sau chiến tranh đã khiến câu thơ trở nên trĩu nặng suy tư.Thành công của đoạn thơ còn đến từ những nét nghệ thuật độc đáo. Với thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt, lúc dồn dập như tiếng súng, lúc trầm lắng như tiếng thở dài, Nguyễn Phan Quế Mai đã diễn tả trọn vẹn những cung bậc cảm xúc phức tạp. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, kết hợp với các biện pháp tu từ như điệp ngữ, liệt kê và ẩn dụ đã tạo nên sức gợi cảm mạnh mẽ, chạm đến trái tim người đọc.Tóm lại, đoạn thơ trong "Thời gian trắng" là một nốt lặng đầy ý nghĩa trong thơ ca đương đại. Qua những vần thơ đầy thao thức, Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ tri ân thế hệ cha anh mà còn gửi gắm một thông điệp thức tỉnh: hãy biết trân trọng lịch sử và những giá trị tinh thần bền vững trước sự nghiệt ngã của thời gian. Bài thơ nhắc nhở chúng ta rằng, hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu và nước mắt, vì vậy đừng bao giờ để ký ức ấy trở thành một "khoảng trắng" vô hồn.
câu 1
Trong cuộc sống đầy biến động, "động lực" chính là nhiên liệu để con người, đặc biệt là giới trẻ, vận hành cỗ máy nỗ lực của chính mình. Nỗ lực mỗi ngày không phải là những cú nhảy vọt thần kỳ, mà là sự kiên trì mài giũa năng lực như "rèn luyện cơ bắp" mà Rosie Nguyễn đã đề cập. Vậy động lực đó đến từ đâu? Trước hết, nó đến từ khát vọng khẳng định bản thân. Người trẻ nỗ lực vì muốn thoát khỏi hội chứng "vừa đủ", muốn chạm tới phiên bản tốt hơn của chính mình để không bị đào thải bởi sự khắc nghiệt của thời gian. Thứ hai, động lực còn đến từ trách nhiệm với những người thân yêu. Nhìn vào đôi vai gầy của cha, mái tóc điểm bạc của mẹ, ta hiểu rằng mình không được phép dừng lại. Sâu sắc hơn, động lực còn là sự biết ơn lịch sử – nỗ lực để sống xứng đáng với những hy sinh của thế hệ đi trước. Khi có động lực đúng đắn, mỗi khó khăn sẽ trở thành một nấc thang, giúp chúng ta không chỉ tồn tại mà là thực sự sống một đời rực rỡ. Đừng đợi đến khi ngày mai tới mới bắt đầu nỗ lực, bởi "tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu" chính là nằm ở cách bạn dốc lòng cho ngày hôm nay.
câu 2
Trong dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, đôi khi con người mải mê vươn tới những đỉnh cao phía trước mà vô tình lãng quên đi những nốt trầm của lịch sử. Bài thơ "Thời gian trắng" của Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ là một bức tranh về ký ức, mà còn là lời nhắc nhở đầy day dứt về đạo lý "Uống nước nhớ nguồn". Qua đoạn trích, tác giả đã khéo léo khắc họa hình ảnh người lính già và nỗi trăn trở về sự lãng quên của thế hệ trẻ hôm nay.
Mở đầu đoạn trích là một không gian đối thoại gần gũi, chân thực:
"Tôi ngồi sau xe
Lắng nghe ông kể chuyện"
Hai thế hệ, một người trẻ và một người lính già, cùng ngồi trên một chuyến xe – biểu tượng cho chuyến hành trình xuyên thời gian. Điệp từ "Nghe" được lặp lại liên tục, không chỉ đơn thuần là thính giác mà là sự cảm nhận bằng cả tâm hồn. Tác giả không nghe bằng tai, mà nghe bằng sự rung động của trái tim trước những "di vật sống" của chiến tranh:
"Nghe gió Trường Sơn thổi về từ mái tóc bồng bềnh điểm bạc
Nghe nắng miền Trung hát trên đôi vai gầy guộc"
Lịch sử trong thơ Quế Mai không hề khô khan trên những trang giấy cũ. Nó hiện hữu ngay trên cơ thể người lính. Mái tóc "điểm bạc" ấy không chỉ vì tuổi tác mà dường như vẫn còn vương lại cái "gió Trường Sơn" của những đêm không ngủ. Đôi vai "gầy guộc" ấy đã từng gánh vác cả vận mệnh dân tộc dưới cái "nắng miền Trung" khắc nghiệt. Những hình ảnh ẩn dụ này làm cho hình tượng người chiến sĩ trở nên vĩ đại nhưng cũng thật gần gũi, khiến người đọc không khỏi xót xa cho những hy sinh thầm lặng của họ.
Đặc biệt, sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại được đẩy lên cao trào qua câu thơ: "Nghe tiếng súng xuyên về từ ngày tôi chưa sinh". Tiếng súng ấy không còn vang vọng trên chiến trường thực, mà nó xuyên qua thời gian, xuyên qua tâm thức của người trẻ để đánh thức lòng biết ơn. Người lính già không chỉ kể chuyện bằng lời, mà ông còn:
"Đem giọt mưa xa về mắt tôi
Giọt mưa mang vị ngọt chiến thắng, vị đắng cuộc chiến đã xa ông vĩnh viễn"
"Giọt mưa" ở đây là một hình ảnh đa nghĩa, có thể là giọt mưa rừng Trường Sơn gian khổ, cũng có thể là giọt nước mắt của sự đồng cảm. Tác giả đã cảm nhận được những dư vị đối lập: sự "ngọt ngào" của ngày toàn thắng và sự "đắng cay" của những mất mát, hy sinh mà người lính phải mang theo suốt đời. Đối với ông, chiến tranh có thể đã xa về mặt thời gian, nhưng những nỗi đau và đồng đội nằm lại vẫn là một phần máu thịt "vĩnh viễn" không thể rời bỏ.
Tuy nhiên, phần sau của đoạn trích lại mang một sắc thái khác – đó là sự trăn trở và lời cảnh báo:
"Vị mặn trăn trở – 'rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn'"
Câu hỏi tu từ đặt trong dấu ngoặc kép như một tiếng thở dài đầy lo âu. Người lính không đòi hỏi sự trả ơn bằng vật chất, ông chỉ sợ sự lãng quên. Phản chiếu vào thực tại, tác giả nhìn thấy một "vị cay" khác của đời thường:
"như chỉ biết vươn mình
về phía trước về phía trước
phía trước...
Mà quên đi
Quên đi"
Nhịp điệu đoạn thơ ở đây bỗng trở nên dồn dập với phép điệp ngữ và dấu chấm lửng. Hình ảnh con người hiện đại cứ mải mê "vươn mình về phía trước" trong guồng quay của cơm áo gạo tiền, của sự hào nhoáng, để rồi vô tình đánh mất đi sự kết nối với nguồn cội. Hai chữ "Quên đi" được lặp lại như một nhát dao cứa vào lòng người đọc, nhắc nhở chúng ta rằng nếu không có những "người lính già" và những câu chuyện "cần được kể", chúng ta sẽ trở thành những kẻ không có quá khứ, những người sống trong một "thời gian trắng" trống rỗng.
Tóm lại, bằng thể thơ tự do phóng khoáng và ngôn ngữ giàu sức gợi, Nguyễn Phan Quế Mai đã gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc. Đoạn thơ là một nốt lặng cần thiết giữa cuộc sống tấp nập, nhắc nhở thế hệ trẻ rằng: Nỗ lực cho tương lai là cần thiết, nhưng đừng bao giờ để đôi chân bước đi mà cái đầu lại lãng quên những người đã ngã xuống. Lịch sử là nền tảng, là động lực để chúng ta vươn xa một cách vững chãi nhất.
Câu 1
Trong hành trình chinh phục những đỉnh cao của cuộc đời, "động lực" chính là nguồn nhiên liệu quý giá nhất giúp người trẻ không ngừng nỗ lực mỗi ngày. Động lực không đâu xa xôi, nó có thể đến từ khát vọng khẳng định bản thân, mong muốn hiện thực hóa những ước mơ cháy bỏng hay đơn giản là ý chí muốn vượt qua giới hạn của chính mình ngày hôm qua. Bên cạnh đó, tình yêu thương dành cho gia đình – mong muốn trở thành niềm tự hào của cha mẹ – cũng là sức mạnh to lớn giúp chúng ta kiên trì trước bão giông. Khi có động lực, mỗi khó khăn sẽ trở thành một nấc thang, mỗi thất bại sẽ là một bài học để trưởng thành hơn. Ngược lại, nếu sống thiếu mục đích, người trẻ dễ rơi vào trạng thái chênh vênh, "sống mòn" và sớm đầu hàng trước áp lực. Vì vậy, mỗi chúng ta cần tìm cho mình một "mỏ neo" ý nghĩa, biết biến những áp lực từ cuộc sống thành động lực để hành động. Hãy nhớ rằng, sự nỗ lực không ngừng nghỉ ngày hôm nay chính là chìa khóa để mở ra cánh cửa thành công và đóng góp những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng trong tương lai.
Câu 2
Nguyễn Phan Quế Mai là nhà thơ luôn dành một góc trang trọng trong hồn thơ mình để viết về những ký ức lịch sử và sợi dây tình cảm gia đình bền chặt. Đoạn thơ trích trong bài “Thời gian trắng” là một nốt lặng đầy xúc động, tái hiện lại cuộc gặp gỡ giữa hai thế hệ, nơi quá khứ hào hùng của dân tộc được sống lại qua lời kể của người ông và sự thấu cảm của người cháu. Mở đầu đoạn thơ, tác giả phác họa một khung cảnh bình dị nhưng chứa chan tình cảm: "Tôi ngồi sau xe Lắng nghe ông kể chuyện" Tư thế "ngồi sau xe" gợi lên sự che chở, bảo bọc của người đi trước dành cho thế hệ sau. Trong không gian ấy, hành động "lắng nghe" không chỉ đơn thuần là tiếp nhận thông tin, mà là sự giao thoa giữa hai tâm hồn. Những câu chuyện của ông không còn là những con số khô khan trong sách giáo khoa, mà trở nên sống động, thấm đẫm hơi thở thời đại. Quá khứ chiến trường khốc liệt hiện lên đầy hào hùng và cũng đầy gian khổ qua hình ảnh người ông: "Nghe gió Trường Sơn thổi về từ mái tóc bồng bềnh điểm bạc Nghe nắng miền Trung hát trên đôi vai gầy guộc" Tác giả đã sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác cực kỳ tinh tế. Cái "gió Trường Sơn" của một thời xẻ dọc đại ngàn đi cứu nước dường như vẫn còn vương lại trên mái tóc đã điểm màu sương khói của ông. Mái tóc ấy là chứng nhân của lịch sử, là nơi thời gian và ký ức ngưng đọng. Hình ảnh "nắng miền Trung hát" trên "đôi vai gầy" gợi lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên và cả nỗi vất vả, hy sinh của thế hệ cha anh. Đôi vai ấy đã gánh vác cả vận mệnh giang sơn, đã đi qua bao mưa bom bão đạn để đổi lấy sự bình yên cho hôm nay. Sự xúc động được đẩy lên cao trào ở câu thơ cuối: "Nghe tiếng súng xuyên về từ ngày tôi chưa sinh" Âm thanh của chiến tranh – "tiếng súng" – dù đã lùi xa hàng thập kỷ, dù xảy ra vào thời điểm người cháu "chưa sinh", nhưng giờ đây lại vang vọng đầy ám ảnh. Từ "xuyên" được dùng rất đắc địa, cho thấy sức mạnh xuyên thấu thời gian của ký ức. Nó kết nối quá khứ đau thương, oanh liệt với hiện tại hòa bình, khiến người đọc nhận ra rằng: lịch sử không bao giờ mất đi, nó vẫn luôn chảy trôi trong huyết quản của các thế hệ tiếp nối. Về nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng thể thơ tự do phóng khoáng cùng điệp từ "nghe" lặp lại bốn lần ở đầu mỗi câu thơ. Phép điệp này tạo nên một nhịp điệu da diết, như những đợt sóng ký ức liên hồi ùa về trong tâm trí. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, vừa thực vừa ảo, giúp tác giả chuyển tải thành công thông điệp về lòng biết ơn. Đoạn thơ trong “Thời gian trắng” của Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ là lời tri ân sâu sắc dành cho thế hệ đi trước mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng đối với mỗi người trẻ. Chúng ta được sống trong hòa bình là nhờ máu xương và tuổi trẻ của những người như "ông". Vì vậy, trân trọng quá khứ chính là cách tốt nhất để xây dựng một tương lai vững bền.