Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
Câu 1:
Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.
Câu 2:
Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"
– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.
– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.
Bình luận các ý kiến:
Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do
Câu 2: Biện pháp nghệ thuật là so sánh
Câu 3: Những câu thơ trên miêu tả rõ hình ảnh con người trước biển: dù bão dông, thiên nhiên khắc nghiệt như nào thì con người vẫn luôn lạc quan hướng về phía trước, con người vẫn bình thản, chịu đựng những đau thương, khó khăn thử thách
Câu 4: tình yêu quê hương biển cả được tác giả thể hiện qua đoạn trích: tác giả đã dành tình yêu tha thiết với que hương mình, dù có bão giông, gió lốc thì biển vẫn là nơi tìm về của những đứa con làng chài. Biển còn là nơi ông cha ta làm lên tất cả vì vậy tình yêu biển vả còn là sự biết ơn, chân trọng quá khứ.
Câu 1 : Đoạn trính trên được viết theo thể thơ : Tự do
Câu 2: Biện pháp tu từ được sử dụng : So sánh
Câu3 :
- Hình tượng biển ( thiên nhiên ) dù bão giông,khắc nghiệt thì những con người lao động không vì thế mà sợ hãi - đó là cách con người làm chủ được thiên nhiên,coi đó chỉ như một thử thách,một lẽ thường tình của mẹ thiên nhiên,họ vẫn bình thản,bản lĩnh,kiên cường trước những đau thương mà thiiên nhiên gây ra.
- Người lao động Việt Nam mạnh mẽ,cần cù,luôn lạc quan,kiên cường vượt qua khó khăn vững bước trên mặt biển
Câu 4 :
Qua đoạn trích,có thể thấy được rõ nét nhất 2 thứ : Tình cảm sâu nặng mà tác giả dành cho biển cả quê hương và sư trân trọng công lao của ông cha ta trong quá khứ.Tình cảm của tác giả dành cho biển cả quê hương rất sâu sắc,dẫu có khắc nghiệt, khó khăn nhưng biển vẫn là nơi nuôi sống những con người Việt Nam,là nhà,là nơi ta tìm về.Đặc biệt,tình yêu không chỉ thể hiện qua sự trân trọng quá khứ, biết ơn công lao cha ông ta,phát huy lại truyền thống dân tộc,tao nên sức mạnh đoàn kết giữa người với người
1 | Thể thơ: tự do |
2 | Hai hình ảnh nói đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo: - Gió rát mặt, Đá củ đậu bay, Nước ngọt hiếm… (Thí sinh chỉ ra đúng 2 hình ảnh được 0.5 điểm). |
3 | Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau. Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa: - Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…) - Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời. |
4 | - Tác giả thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ với cuộc sống của những người lính đảo. - Đồng thời cho thấy sự trân trọng những phẩm chất đáng quý: tinh thần lạc quan, ý chí nghị lực phi thường và tình yêu tổ quốc. -> Nhận xét về tình cảm: - Đây là những tình cảm chân thành, thể hiện trái tim yêu thương tinh tế, sâu sắc của tác giả. - Tình cảm của tác giả cũng là đại diện cho tất cả những người dân Việt Nam dành tình yêu thương, sự cảm phục gửi đến những người lính nơi đảo xa. |
Câu 1 :thể thơ tự do
Câu 2: Những hình ảnh thể hiện cho sự gian khó ở Trường Sa: đá san hô kê lên thành sân khấu, vài tấm tôn chôn mấy cánh gà, gió rát mặt, đảo thay hình dáng, sỏi cát bay như lũ chim hoang.
Câu 3:
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.
Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:
- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)
- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.
Câu 4 :Đoạn thơ trích trong bài "Lính đảo hát tình ca trên đảo" của tác giả Trần Đăng Khoa đã khẳng định được tinh thần lạc quan, tươi trẻ của những người lính hải đảo nơi Trường Sa khắc nghiệt cùng tinh thần yêu nước, hướng về tổ quốc của họ. Thật vậy, hình ảnh những người lính hải đảo hiện lên với tầm vóc vĩ đại và tình yêu bất biến dành cho tổ quốc. Đầu tiên, họ là những người lính bất chấp những khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt công việc. Điều kiện ở Trường Sa vô cùng khó khăn và khắc nghiệt: gió rát mặt, đảo thay đổi hình dạng, sỏi cát bay như lũ chim hoang. Ở nơi biển đảo hẻo lánh ấy, những người lính hải quân vẫn hiên ngang và cất lên bài hát của tuổi trẻ. Không những có phẩm chất kiên cường mà ta còn thấy được tinh thần tươi trẻ và yêu đời của những người lính ấy. Thứ hai, họ là những người lính khát khao cống hiến cho tổ quốc. Tình yêu của họ được gửi gắm vào lời hát và tiếng lòng của trái tim "Nào hát lên". Tình yêu ấy là động lực để họ "đứng vững" trước những khó khăn và họ còn muốn hát lên cho trời đất, mây nước biết. Tổ quốc đối với những người lính trẻ là thiêng liêng và vĩnh hằng biết nhường nào. Tóm lại, đoạn thơ cho ta thấy được phong thái yêu đời cùng tình yêu tổ quốc của những người lính hải đảo ấy.
1, nghị luận
2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.
3,
Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.
4,
Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:
- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.
- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.
- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.
- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.
Câu 4:
- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.
- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.
- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.


Câu 1: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn luận về quan điểm: đi xin việc với yêu cầu “việc nhẹ lương cao” trong giới trẻ hiện nay.
Gợi ý nội dung:Trong xã hội hiện đại, nhiều bạn trẻ đặt ra mong muốn tìm kiếm công việc có đặc điểm “việc nhẹ lương cao”. Quan điểm này phản ánh mong muốn cuộc sống dễ dàng hơn, tránh những áp lực, mệt nhọc trong công việc. Tuy nhiên, yêu cầu này thể hiện tư duy chưa đúng đắn về giá trị lao động và sự phát triển bền vững. Công việc tốt không chỉ đơn thuần là nhẹ nhàng mà còn phải phù hợp khả năng, mang lại cảm giác tự hào, ý nghĩa và giúp bản thân trưởng thành. Ngoài ra, làm việc chăm chỉ, chịu khó là phẩm chất cần thiết để xây dựng sự nghiệp vững chắc, góp phần phát triển đất nước. Do đó, giới trẻ cần có thái độ tích cực, trân trọng lao động và sẵn sàng đối mặt với thử thách để trưởng thành, chứ không nên chỉ chạy theo mong muốn “việc nhẹ lương cao” mà bỏ qua quá trình rèn luyện, cố gắng.
Câu 2: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ:
Trong hai đoạn thơ này, tác giả đều thể hiện tình yêu tha thiết, sâu đậm đối với đất nước Việt Nam qua những hình ảnh và cảm xúc chân thật, thiêng liêng. Đoạn đầu tập trung mô tả đất nước qua vẻ đẹp của thơ ca, của mùa hoa nở rực rỡ, của những dòng sông mát lành, của hình ảnh người mẹ già lam lũ nhưng bền bỉ, là biểu tượng của tình mẫu tử thiêng liêng, của sự gắn bó keo sơn của con người với quê hương. Những hình ảnh ấy mang tính biểu tượng cao, gợi cảm xúc tự hào, yêu mến đất nước qua từng nét đẹp bình dị, thân thương.
Trong khi đó, đoạn thứ hai thể hiện tình yêu đất nước qua những hình ảnh gắn liền với lịch sử, chiến tranh, qua những mùa xuân, qua hình ảnh cô Tấm dịu dàng, qua những lời ca dao, qua các đảo Trường Sa, Hoàng Sa. Đó là hình ảnh đất nước trải qua tháng năm chiến tranh, thử thách, nhưng vẫn tươi đẹp, thiêng liêng trong trái tim mỗi người dân. Cách thể hiện này mang tính trữ tình sâu sắc, kết hợp giữa cảm xúc yêu nước, tự hào với niềm tin vào sự trường tồn của đất nước.
Hai đoạn thơ đều thể hiện tình cảm yêu nước qua những hình ảnh đẹp, giàu cảm xúc, song mỗi đoạn lại có cách tiếp cận khác nhau: đoạn đầu qua vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người và đời sống bình dị, còn đoạn sau tập trung phản ánh quá trình lịch sử, những thử thách và niềm tự hào dân tộc. Qua đó, ta nhận thấy rằng, tình yêu đất nước không chỉ thể hiện qua những hình ảnh tươi đẹp mà còn qua sự kiên cường, vượt qua khó khăn, thử thách của con người Việt Nam. Cả hai đoạn thơ góp phần nhấn mạnh vẻ đẹp thiêng liêng, bền vững của Tổ quốc, khơi dậy niềm tự hào, ý chí giữ gìn và phát triển đất nước trong trái tim mỗi người dân.
Câu 1 (khoảng 200 chữ):
Trong xã hội hiện nay, không ít bạn trẻ khi đi xin việc thường mong muốn có được công việc “việc nhẹ lương cao”. Đây là một suy nghĩ thiếu thực tế và tiềm ẩn nhiều hệ lụy. Trước hết, trong quy luật lao động, thu nhập luôn gắn liền với năng lực, trình độ và sự cống hiến. Không có thành quả nào đến dễ dàng nếu không trải qua quá trình nỗ lực và rèn luyện nghiêm túc. Việc theo đuổi “việc nhẹ lương cao” dễ khiến người trẻ rơi vào tâm lý ảo tưởng, lười biếng, thiếu ý chí phấn đấu. Thậm chí, nhiều trường hợp còn bị lừa đảo bởi những lời quảng cáo việc làm hấp dẫn nhưng không rõ ràng. Tuy nhiên, mong muốn có công việc tốt, thu nhập cao là chính đáng, nhưng cần được xây dựng trên nền tảng của năng lực và sự cố gắng. Vì vậy, mỗi người trẻ cần xác định đúng đắn rằng thành công chỉ đến khi ta kiên trì học hỏi, lao động nghiêm túc và không ngừng hoàn thiện bản thân.
Câu 2 (khoảng 600 chữ):
Hai đoạn thơ của Nam Hà và Nguyễn Tiến Đường đều thể hiện tình yêu sâu sắc đối với đất nước, song mỗi tác giả lại có cách cảm nhận và biểu đạt riêng, góp phần làm phong phú hình tượng Tổ quốc trong thơ ca Việt Nam.
Trước hết, đoạn thơ của Nam Hà khắc họa đất nước qua những phương diện giàu chất trữ tình và truyền thống văn hóa. Điệp cấu trúc “Đất nước / Của…” được lặp lại nhiều lần đã tạo nên nhịp điệu trang trọng, đồng thời nhấn mạnh vẻ đẹp đa diện của Tổ quốc. Đó là một đất nước của thơ ca, của thiên nhiên tươi đẹp “bốn mùa hoa nở”, của những giá trị văn hóa dân gian sâu đậm như “trang Kiều”, “câu hát dân gian”. Đặc biệt, hình ảnh đất nước còn hiện lên qua những dòng sông hiền hòa, những giọng hò ngọt ngào, giàu bản sắc. Không dừng lại ở đó, Nam Hà còn tôn vinh vẻ đẹp của con người Việt Nam, tiêu biểu là hình ảnh người mẹ tần tảo, bền bỉ “nuôi chồng, nuôi con chiến đấu”. Qua đó, tác giả đã khắc họa một đất nước vừa giàu truyền thống văn hóa, vừa anh hùng trong chiến đấu.
Trong khi đó, đoạn thơ của Nguyễn Tiến Đường lại thể hiện cái nhìn mang tính khái quát và gắn với ý thức chủ quyền dân tộc rõ nét hơn. Tác giả mở đầu bằng việc nhắc đến “Kiều” và hình tượng “cô Tấm” – những biểu tượng văn hóa quen thuộc, qua đó khẳng định vẻ đẹp bền vững của dân tộc. Đất nước hiện lên trong chiều dài lịch sử với những “mùa binh biến”, nhưng vẫn luôn tỏa sáng với hào khí dân tộc như “Đại cáo bình Ngô”. Đặc biệt, hình ảnh Tổ quốc được ví như người mẹ duy nhất, gần gũi mà thiêng liêng, gợi nhắc tình cảm gắn bó máu thịt của mỗi con người. Điểm nổi bật trong đoạn thơ là ý thức về chủ quyền lãnh thổ được nhấn mạnh qua hình ảnh “Hoàng Sa”, “Trường Sa”, thể hiện tình yêu nước gắn liền với trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc.
Xét về điểm tương đồng, cả hai đoạn thơ đều thể hiện tình yêu nước sâu sắc, tự hào về truyền thống văn hóa và con người Việt Nam. Hai tác giả đều sử dụng những hình ảnh gần gũi, giàu sức gợi như ca dao, dòng sông, người mẹ… để làm nổi bật vẻ đẹp của đất nước. Đồng thời, cả hai đều hướng đến khơi dậy ý thức trân trọng, gìn giữ và phát huy giá trị dân tộc trong mỗi con người.
Tuy nhiên, mỗi đoạn thơ lại có nét riêng. Nếu Nam Hà thiên về cảm xúc trữ tình, mềm mại, nhấn mạnh vẻ đẹp văn hóa và con người trong chiến đấu, thì Nguyễn Tiến Đường lại mang giọng điệu khái quát, giàu tính suy tưởng và nhấn mạnh yếu tố lịch sử, chủ quyền quốc gia. Sự khác biệt này không làm giảm đi giá trị của mỗi đoạn thơ mà ngược lại, còn giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về hình tượng đất nước.
Tóm lại, hai đoạn thơ đều là những tiếng nói chân thành, sâu sắc về tình yêu Tổ quốc. Qua đó, người đọc càng thêm trân trọng vẻ đẹp của đất nước và ý thức rõ hơn trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng và bảo vệ quê hương.
1.
Trong xã hội hiện nay, nhiều bạn trẻ khi đi xin việc thường mong muốn tìm được công việc “việc nhẹ lương cao”. Đây là suy nghĩ khá phổ biến nhưng cũng cần được nhìn nhận đúng đắn. Ai cũng mong có một công việc ổn định, thu nhập tốt và không quá vất vả, đó là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, nếu chỉ muốn hưởng thành quả mà không sẵn sàng cố gắng, học hỏi và chịu khó thì rất khó thành công. Thực tế cho thấy, không có thành công nào đến dễ dàng nếu thiếu sự nỗ lực. Những công việc lương cao thường đòi hỏi trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và trách nhiệm lớn. Nếu chỉ chạy theo “việc nhẹ lương cao”, nhiều bạn trẻ dễ rơi vào bẫy lừa đảo tuyển dụng hoặc hình thành lối sống lười biếng, ỷ lại. Tuổi trẻ là thời gian để rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm và khẳng định bản thân. Vì vậy, thay vì mơ mộng viển vông, mỗi người cần xác định mục tiêu rõ ràng, chăm chỉ học tập và lao động nghiêm túc. Chỉ có sự cố gắng thật sự mới giúp ta đạt được thành công bền vững trong cuộc sống.
2.Hai đoạn thơ đều thể hiện tình yêu tha thiết với quê hương, đất nước và niềm tự hào sâu sắc về vẻ đẹp của Tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi đoạn thơ lại có cách cảm nhận và biểu đạt riêng, tạo nên những nét đặc sắc khác nhau.
Trong đoạn thơ của Nam Hà, đất nước hiện lên trước hết qua vẻ đẹp gần gũi, bình dị mà giàu chất thơ. Điệp từ “Đất nước” được lặp lại nhiều lần như một tiếng gọi thiêng liêng, tha thiết. Đất nước là “của thơ ca”, của “bốn mùa hoa nở”, của những câu Kiều, lời hát dân gian và những dòng sông mát lành. Tác giả cảm nhận đất nước qua chiều sâu văn hóa, qua vẻ đẹp thiên nhiên và tâm hồn con người Việt Nam. Đặc biệt, hình ảnh “những người mẹ / mặc áo thay vai” đã làm nổi bật sự hi sinh thầm lặng, bền bỉ của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Họ chính là hậu phương vững chắc, nuôi chồng, nuôi con chiến đấu vì Tổ quốc. Giọng thơ nhẹ nhàng mà sâu lắng, giàu chất trữ tình, thể hiện niềm tự hào và biết ơn.
Đoạn thơ thứ hai lại mở rộng cảm hứng về đất nước theo chiều dài lịch sử và không gian lãnh thổ. Từ vẻ đẹp của nàng Kiều, cô Tấm đến “Đại cáo bình Ngô”, tác giả khẳng định bản sắc văn hóa và truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc. Hình ảnh người mẹ “chân lấm bùn áo nâu sồng” vừa mộc mạc, giản dị vừa thiêng liêng, tượng trưng cho cội nguồn dân tộc. Không chỉ vậy, đất nước còn được cảm nhận qua chủ quyền biển đảo với “Hoàng Sa”, “Trường Sa”, gợi ý thức trách nhiệm của mỗi công dân với Tổ quốc. Câu thơ “Tổ quốc thiêng liêng trong mỗi cuộc đời” như một lời khẳng định mạnh mẽ về vị trí thiêng liêng của đất nước trong trái tim mỗi người. Giọng thơ tha thiết mà trang trọng, giàu tính khái quát.
Điểm gặp gỡ của hai đoạn thơ là đều ca ngợi vẻ đẹp của đất nước từ truyền thống văn hóa, con người đến lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Cả hai đều sử dụng hình ảnh người mẹ như biểu tượng của sự hi sinh, bền bỉ và tình yêu quê hương sâu nặng. Tuy nhiên, nếu Nam Hà thiên về cảm xúc trữ tình, gần gũi với những hình ảnh đời thường thì đoạn thơ sau lại mang tính khái quát rộng lớn hơn, nhấn mạnh chiều sâu lịch sử và ý thức chủ quyền dân tộc.
Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, giọng điệu tha thiết cùng cảm hứng yêu nước chân thành, cả hai đoạn thơ đã khơi dậy trong người đọc niềm tự hào dân tộc và tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước. Đó cũng là lời nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng, gìn giữ và góp phần xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu đẹp hơn.