Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.
Câu 2.
Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).
Câu 3.
Hai từ láy trong văn bản:
- xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
- chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.
Câu 4.
Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:
- Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
- Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).
Câu 5.
Bài học rút ra:
Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.
Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại
Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông
Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"
-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu
- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu
Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người (được nhân các hóa)
Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách
Câu 1 ngôi kể thứ ba. câu 2 vì họ nhớ đến ơn Đức của bà đã tạo Lập vườn tược nơi đất cũ ,bày dân làng cách chữa bệnh làm ruộng và nuôi dạy con cái. Câu 3 từ láy là nhẹ nhàng giải thích nghĩa là có tính chất nhẹ không gây cảm giác gì ,từ láy là lam lũ có nghĩa vất vả khổ cực trong cảnh thiếu thốn. Câu 5 con người cần biết hiếu thảo kính trọng biết ơn cha mẹ kể cả cha mẹ nuôi phải luôn gắn bó với cội nguồn nhớ về quê hương không quên nơi đã sinh ra nuôi dưỡng mình biết yêu thương giúp đỡ nhân dân đêm kiến thức kinh nghiệm để làm lợi cho cộng đồng.
Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"
Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:
- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.
- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.
- Gợi lên tình cảm thầy trò.
Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.
Câu 1:
Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ ba
Câu 2:
Aưm sống trong hoàn cảnh nghèo khó, mồ côi cha, mẹ thì đau ốm liên miên, bản làng lại bị hạn hán, đói khát
Câu 3:
- từ láy: thiêm thiếp
- đặt câu: Bé ngủ thiêm thiếp trong vòng tay mẹ.
Câu 4: chi tiết đó chứng minh Aưm là một cậu bé hiếu thảo, chăm chỉ, yêu thương và hết lòng lo lắng cho mẹ
Câu 5:
Bài học em rút ra từ câu chuyện:cần biết yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ, sống biết sẻ chia, giúp đỡ người khác, đồng thời phải chăm chỉ, kiên trì và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống
Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
- Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
- Thân bài:
- Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
- Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
- Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
- Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
- Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
- Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.
Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
- Thân bài:
- Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
- Diễn biến:
- Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
- Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
- Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
- Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
- Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
- Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
- Kết bài:
- Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
- Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
Bài làm
Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau
MỜ BÀI
– ‘Thánh Gióng” là một truyện dân gian đáng yêu nhất (trong kho tàng vàn học Việt Nam).
– Anh hùng Gióng tiêu biểu cho lòng yêu nước, quyết tâm thắng giặc ngoại xâm của nhân dân ta, đặc biệt của thỉếu niên Việt Nam.
THÂN BÀI
1) Cậu bé làng Gióng ra đời
– Đời Hùng Vương thứ 6
– Cha mẹ cậu Gióng: chăm làm ăn, phúc đức, ao ước có con.
– Mẹ cậu Gióng ra đồng, đặt chân mình lên vết chân khổng lồ trên đường ướm thử, về nhà thụ thai mười hai tháng.
– Cậu bé làng Gióng ra đời: Mặt mũi khôi ngô, ba tuổi vẫn khòng biết đi, biết nói, biết cười.
2) Sự lớn lên kì diệu của cậu bé Gióng
– Giặc Ân, thế rất mạnh, đến xâm chiếm nước ta. Vua truyền sứ giả tìm người tài giỏi cứu nước.
– Cậu Gióng nói lời đầu tiên với mẹ: Vời sứ giả, lời thứ hai: tâu vua sắm ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt, mũ sắt
– Cậu Gióng lớn nhanh như thổi (ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ), cha mẹ Gióng nhờ bà con, làng xóm gom góp thóc gạo nuôi Gióng, ai cũng sẵn lòng.
3) Chàng trai làng Gióng xung trận
– Thế nước rất nguy, giặc đến chân núi Trâu, người người hoảng hốt, sứ giả đem ngựa, roi, áo giáp sắt đến cho Gióng.
– Cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ, mặc giáp sắt, cầm roi sắt, cưỡi ngựa sắt: vỗ vào mông ngựa, ngựa hí vang.
– Tráng sĩ phi ngựa tiến thẳng tới nơi có giặc ; đánh đón đầu giặc; giết hết lớp này đến lớp khác; giặc chết như rạ. Roi sắt gẫy, tráng sĩ nhổ tre cạnh đường quật vào giặc; ngựa phun lửa. Giặc tan tác.
4) Tráng sĩ Gióng bay lên trời
– Đuổi giặc đến núi Ninh Sóc, tráng sĩ cởi bỏ giáp sắt, cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời.
– Nhớ ơn cứu nước, Vua phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ tại quê nhà.
5) Vết tích còn lại
– Làng Gióng và đền thờ Phù Đổng Thiên Vương. Hội Gióng vào tháng tư hàng năm.
– Những bụi tre đằng ngà, bị ngựa phun lửa cháy, ngả màu vàng óng, ở huyện Gia Bình.
– Những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp; lửa do ngựa phun ra thiêu cháy một làng nay gọi là làng Cháy.
KẾT LUẬN
Niềm ao ước được một lần về dự hội Gióng , về thăm quê hương Phù Đổng Thiên Vương, niềm tự hào củà nhân dân nước Việt, của thiếu niên Viêt Nam
I. Mở bài
Thời gian và không gian xảy ra câu chuyện: Đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng.
II. Thân bài
1. Gốc tích lạ lùng của Thánh Gióng
- Hai ông bà đã già, chưa có con.
- Bà lão giẫm lên một dấu chân khổng lồ, về nhà thụ thai.
- Mười hai tháng sau bà sinh một đứa con trai.
- Khi ba tuổi chú bé vẫn chưa biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi.
2. Thánh Gióng nói được và lớn nhanh nhưthổi
- Giặc Ân xâm lược, thế giặc mạnh, vua cho sứ giả đi tìm người tài.
- Chú bé bỗng nhiên nói được, nhờ mẹ mời sứ giả. Nói với sứ giả đúc ngựa sắt, áo giáp sắt, roisắt.
- Chú bé lớn nhanh như thổi, ăn không đủ no. Dân làng góp thóc gạo nuôi chú.
3. Thánh Gióng đánh giộc và bay về trời
- Giặc đến chân núi Trâu. Sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến.
- Chú bé vươn vai thành tráng sĩ khổng lồ, vỗ vào mông ngựa, ngựa hí vang. Tráng sĩ mặc giáp, cầm roi, cưỡi ngựa ra trận.
- Ngựa xông vào giặc; tráng sĩ cầm roi đánh giặc, ngựa sắt phun lửa thiêu giặc. Giặc chết như rạ.
- Roi sắt gãy, tráng sĩ nhổ tre đánh giặc.
- Đuổi giặc đến chân núi Sóc, tráng sĩ lên núi, cdi áo để lại cùng ngựa bay lên trời.
- Vua phong tráng sĩ là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ.
III. Kết bài
Hiện nay ở làng Phù Đổng vẫn còn đền thờ Thánh Gióng, những bụi tre đằng ngà, những hồ ao liên tiếp lưu giữ dấu chân ngựa của Thánh Gióng đi qua.
I. Mở bài: giới thiệu phiên chợ hoa ngày tết
Ví dụ:
Mỗi lần tết đến ba thường cho em đi chợ tết để chọn hoa cùng ba. Phiên chợ hoa ngày tết rất đẹp và nhộn nhịp. em rất thích đến phiên chợ hoa mỗi dịp tết, em rất thích phiên chợ hoa.
II. Thân bài: tả phiên chợ hoa ngày tết
1. Tả bao quát phiên chợ hoa ngày tết:
- Phiên chợ hoa ngày tết thường vào khoảng 20 tết đến ngày tết
- Phiên chợ hoa ngày tết diễn ra ở một bãi đất rộng gần đường
- Phiên chợ tết rất nhộn nhịp và xinh đẹp
2. Tả chi tiết phiên chợ hoa ngày tết
a. Tả khung cảnh phiên chợ hoa ngày tết
- Mặt trời hừng hừng sáng
- Trời nhẹ nhẹ sáng, mát lạnh
- Những chú chim bay cao hót ríu rít
- Những chú buớm bay khắp nơi
- Mây trời cao vời vợi
- Trên đường đi ai cũng tấp nập đón tết
b. Tả hoa tại phiên chợ hoa ngày tết
- Phiên chợ có rất nhiều loại hoa
- Mỗi chậu hoa có một nét đẹp riêng
- Cả một vùng tràn ngập sắc hoa và hương hoa
- Các loài hoa đủ màu sắc cùng khoe sắc
c. Tả con người trong phiên chợ hoa ngày tết
- Mọi người đến phiên chợ hoa rất nhiều
- Người đến tấp nập phiên chợ hoa từ trẻ con đến người già
- Có những người đến phiên chợ hoa để mau hoa
- Hay có những người đến để ngắm hoa
- Hay đơn giản chỉ đến phiên chợ hoa để chụp ảnh cùng hoa
III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về phiên chợ hoa ngày tết
1) Mở bài: Giới thiệu chung về một sự kiện văn hóa mà em muốn thuyết minh, thuật lại: Sự kiện Hội chợ Hoa Xuân 2) Thân bài: a) Giới thiệu khái quát về sự kiện Hội chợ Hoa Xuân: Đây là hoạt động thường niên, được tổ chức mỗi năm một lần Thời gian: diễn ra từ ngày 20 đến 29 tháng Chạp (Âm Lịch) Địa điểm: sân thi đấu bóng đá của phường Hoạt động: bày bán các loại hoa Tết và thi cắm hoa (mô hình lớn) b) Thuật lại sự kiện Hội chợ Hoa Xuân: - Công tác chuẩn bị: dọn dẹp khu vực sân bóng chuyền, dựng rạp, dựng lều theo từng khu vực chuẩn bị biển báo, dựng cổng, phát tờ rơi để thu hút sự chú ý các thương lái, nhà vườn tham gia Hội chợ lần lượt chở sản phẩm đến và đưa vào phần rạp đã được chuẩn bị - Phần thi cắm hoa (mô hình lớn) các đội tham gia thi cắm hoa sẽ sáng tạo ngay tại hội chợ và đem ra trưng bày ở khu vực chính giữa hội chợ người dân khi đến hội chợ sẽ quan sát và bỏ phiếu vào thùng đựng phiếu trước mô hình hoa mình yêu thích nhà tài trợ tổng kết và trao giải cho đội có nhiều phiếu bầu nhất vào ngày thứ 4 trừ khi bắt đầu tổ chức bỏ phiếu sau khi trao giải, các mô hình vẫn được trưng bày tại vị trí cũ, nhằm trang trí cho Hội chợ - Phần bán hoa Tết: ngay khi cổng hội chợ mở ra, các loại hoa Tết bắt đầu được bày bán với nhiều loại hoa đa dạng, phong phú vận chuyển về từ khắp các nơi trên cả nước nổi bật nhất là các loại hoa đặc trưng của Tết như hoa đào, hoa mai, hoa mận, quất, tuyết mai, thanh liễu, đào đông, tầm xuân… các loài hoa khác tuy có quanh năm nhưng khi đến thời điểm này cũng trở nên rực rỡ và nhiều hơn các sạp hàng bổ sung hoa thêm vào từng ngày để đảm bảo số lượng và chất lượng cho rạp hoa người dân đến xem Hội chợ Hoa Xuân rất đông và náo nức, hầu như suốt cả ngày đều có người ra vào đêm đến, Hội chợ vẫn tấp nập bởi có đèn sáng trưng và luôn mở cửa 24/24 người dân đến xem hoa nhiều lần ròi mới chốt mua nhưng người bán vẫn vui vẻ nồng nhiệt tiếp đón ngoài cổng và tường rào của Hội chợ, rất nhiều xe ba gác, xe máy xếp gọn gàng, sẵn sàng hỗ trợ người mua chở hoa về tận nhà - Kết thúc: Hội chợ kết thúc vào ngày 29 tháng Chạp (trước ngày cuối năm) để kịp dọn dẹp và trả lại sự sạch sẽ cho sân bóng theo thông lệ, những phần hoa chưa kịp bán hết, nếu không mang về thì người bán sẽ đem tặng cho địa phương để trưng bày dọc đường đi 3) Kết bài: Tình cảm, cảm xúc của em dành cho sự kiện mà mình vừa thuyết minh thuật lại
k