K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

31 tháng 1 2024

Nhà thơ cũng vậy. Nếu như đó là một nhà thơ thực thụ thì phải luôn nhắc mình “tôi không biết”. Hãy cố gắng tìm câu trả lời bằng mỗi tác phẩm của mình. Nhưng khi vừa đặt xong dấu chấm là lại phải cảm thấy băn khoăn. Thấy rằng đó mới chỉ là một câu trả lời nhất thời và tuyệt nhiên chưa đầy đủ.

28 tháng 10 2018

=> Đáp án A

27 tháng 12 2018

Các địa danh nổi tiếng được nhắc đến:

+ Bến Nghé: Tên cũ của sông Sài Gòn; cũng là địa danh chỉ thành Gia Định, thuộc địa phận thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

+ Đồng Nai: địa danh chỉ phần đất miền đông Nam Bộ, cũng là tên một con sông chảy vào Nhà Bè, gần Sài Gòn.

Đáp án cần chọn là: C

31 tháng 8 2023

- Thông tin tác giả:

+ Hoài Thanh (1909 – 1982), tên khai sinh Nguyễn Đức Nguyên.

+ Quê ở Nghi Trung, Nghi Lộc, Nghệ An, xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo.

+ Trước cách mạng:

·       Tham gia các phong trào yêu nước ngay từ thời đi học và bị thực dân Pháp bắt giam.

·       Tham gia cách mạng Tháng Tám và làm chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc ở Huế.

+ Sau cách mạng Tháng Tám: Chủ yếu hoạt động trong ngành Văn hóa – nghệ thuật và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng: Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam, Hội Văn nghệ Việt Nam, Tổng thư ký Hội Liên Hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam…

- Phong trào Thơ Mới:

Phong trào thơ mới được chia thành những giai đoạn sau:

+ Giai đoạn 1932 – 1935

Đây là giai đoạn đánh dấu sự chớm nở của thơ mới, với sự đấu tranh gay gắt giữa hai trường phái thơ. Sau bài khởi xướng của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên liên tiếp công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, đối,bỏ điển tích, sáo ngữ …

Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mớivới tập Mấy vần thơ (1935). Ngoài ra còn có sự góp mặt các nhà thơ Lưu TrọngLư, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên

+ Giai đoạn 1936-1939

Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trênnhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại. Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuổi lớnnhư Xuân Diệu (tập Thơ thơ -1938), Hàn Mặc Tử (Gái quê -1936, Đau thương-1937), Chế Lan Viên (Điêu tàn - 1937), Bích Khuê (Tinh huyết - 1939), … Đặc biệt sự góp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, vừamới bước vào làng thơ “đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn” (Hoài Thanh). Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này

Phong trào thơ mới nở rộ với hàng loạt các cây bút có tên tuổi xuất hiện, thể hiện rõ tài năng nghệ thuật đặc sắc cũng như sự lên ngôi của cái tôi cá nhân sau suốt một thời gian dài bị kìm hãm bởi. Các nhà thơ được nói lên cảm xúc của mình một cách trọn vẹn.

+ Giai đoạn 1940-1945

Đây là giai đoạn thơ mới xuất hiện nhiều khuynh hướng khác nhau, về cơ bản vẫn giữ được nét đặc trưng của thơ mới những giai đoạn đầu, song đã bắt đầu có sự thoái trào. Các nhà thơ thời kì này xuất hiện một bộ phận cổ súy việc ăn chơi, hưởng thụ trước thời thế loạn lạc, lãng mạn một cách thái quá hiện thực. Giai cấp tiểu tư sản thành thị và một bộ phận trí thức đã không giữ được tư tưởng độclập đã tự phát chạy theo giai cấp tư sản. Với thân phận của người dân mất nước và bị chế độ xã hội thực dân o ép, họ như kẻ đứng ngã ba đường, sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau thổi tới.

Đọc đoạn văn trích (trang 112 SGK Ngữ văn 11, tập 2) trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân và trả lời các câu hỏi:a) Đoạn trích viết về vấn đề gì? Quan điểm của các tác giả đối với vấn đề đó như thế nào?b) Các tác giả đã sử dụng thao tác lập luận nào là chủ yếu? Ngoài ra trong đoạn trích còn có thao tác lập luận nào nữa không?c) Có thể quan niệm một bài (đoạn) văn...
Đọc tiếp

Đọc đoạn văn trích (trang 112 SGK Ngữ văn 11, tập 2) trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân và trả lời các câu hỏi:

a) Đoạn trích viết về vấn đề gì? Quan điểm của các tác giả đối với vấn đề đó như thế nào?

b) Các tác giả đã sử dụng thao tác lập luận nào là chủ yếu? Ngoài ra trong đoạn trích còn có thao tác lập luận nào nữa không?

c) Có thể quan niệm một bài (đoạn) văn càng sử dụng được nhiều thao tác lập luận thì càng có sức hấp dẫn không? Phải xuất phát từ đâu để có thể chọn chính xác các thao tác lập luận và vận dụng tổng hợp các thao tác đó trong một bài (đoạn) văn cụ thể? Và phải dựa vào đâu để đánh giá mức độ thành công của việc vận dụng tổng hợp nhiều thao tác lập luận khác nhau?

1
8 tháng 4 2017

a, Đoạn trích viết về ảnh hưởng Pháp trong thơ Việt (thơ mới)

Quan điểm của tác giả: Thừa nhận có ảnh hưởng Pháp trong Thơ mới nhưng khẳng định thơ văn Pháp không làm mất bản sắc dân tộc Việt Nam trong Thơ mới

b, Tác giả chủ yếu sử dụng thao tác phân tích, ngoài ra còn có các thao tác so sánh, bác bỏ, bình luận

c, Bài văn có sức hấp dẫn khi người viết nắm vững thao tác lập luận. Không phải bất kì một bài văn, đoạn văn nào càng sử dụng nhiều thao tác lập luận thì có sức hấp dẫn

- Cần có sự hiểu biết, kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận

15 tháng 10 2016

1. Bài ca ngất ngưỡng

Vũ trụ nội mạc phi phận sự 
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng 
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông 
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng 
Lúc bình Tây, cờ đại tướng 
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên 
Đô môn giải tổ chi niên 
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng 
Kìa núi nọ phau phau mây trắng 
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi 
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì 
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng 
Được mất dương dương người tái thượng 
Khen chê phơi phới ngọn đông phong 
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng 
Không Phật, không tiên, không vướng tục 
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú 
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung 
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

2. Đánh thức người đời

Xót người tiền đếm gạo lường 
Thế mà cũng chịu một trường hoá sinh 
Nhân sinh bất hành lạc 
Thiên tuế diệc vi thường 
Đã đem vào cuộc hý trường 
Lại muốn theo phường thái cực 
Chuồn đội mũ mượn mầu đạo đức 
Thịt hay ăn một cục tham si 
Gác thay thảy là cầm là kỳ là tửu là thi 
Rất đỗi y quần chi hạ 
Bất tri hữu thử trân mỹ giả 
Ôi trời đất người đâu người thế 
Mấy trăm năm là mấy trăm năm 
Khiến cho lạc giả thương tâm

3. Đời người như thấm thoát

Đời người thấm thoắt

Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi 
Vạn sáu tiêu nhăng đã hết rồi! 
Nhắn con tạo hoá xoay thời lại, 
Để khách tang bồng rộng đất chơi.

4. Bỡn cô đào già

Liếc trông giá đáng mấy mười mươi 
Đem lạng vàng mua lấy tiếng cười 
Giăng xế nhưng mà cung chửa khuyết 
Hoa tàn song lại nhị còn tươi 
Chia đôi duyên nọ đà hơn một 
Mà nét xuân kia vẹn cả mười 
Vì chút tình duyên nên đằm thắm 
Khéo làm cho bận khách làng chơi

5. Kẻ sĩ

Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt, 
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên.
 
Có giang sơn thì sĩ đã có tên, 
Từ Chu, Hán, vốn sĩ này là quý. 

Miền hương đảng đã khen rằng hiếu nghị 
Đạo lập thân phải giữ lấy cương thường 
Khí hạo nhiên chí đại chí cương 
So chính khí đã đầy trong trời đất. 

Lúc vị ngộ, hối tàng nơi bồng tất 
Hiêu hiêu nhiên điếu Vịcanh Sằn 
Xe bồ luân dù chưa gặp ThangVăn 
Phù thế giáo một vài câu thanh nghị

Cầm chính đạo để tịch tà cự bí 
Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên 
Rồng mây khi gặp hội ưa duyên 
Mang quách cả sở tồn làm sở dụng. 

Trong lang miếu ra tài lương đống 
Ngoài biên thuỳ rạch mũi Can Tương 
Làm sao cho bách thế lưu phương 
Trước là sĩ, sau là khanh tướng. 

Kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hung trung, 
Vũ trụ chi gian giai phận sự, nam nhi đáo thử thị hào hùng.
 
Nước nhà yên mà sĩ được thung dung 
Bấy giờ sĩ mới tìm ông Hoàng Thạch 

Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch 
Tiêu dao nơi hàn cốc thanh sơn 
Nào thơ, nào rượu, nào địch, nào đờn 
Đồ thích chí chất đầy trong một túi. 

Mặc ai hỏi, mặc ai không hỏi tới 
Gẫm việc đời mà ngắm kẻ trọc thanh 
Này này sĩ mới hoàn danh.

 
15 tháng 10 2016

1. Bỡn nhân tình

Tao ở nhà tao, tao nhớ mi, Nhớ mi nên phải bước chân đi. Không đi mi nói rằng không đến, Đến thì mi nói đến làm chi. Làm chi ta đã làm chi được, Làm được ta làm đã lắm khi

2. Cách ở đời

Ăn ở sao cho trải sự đời. Vừa lòng cũng khó há rằng chơi. Nghe như chọc ruột, tai làm điếc. Giận đã căm gan, miệng mỉm cười. Bởi số chạy đâu cho khỏi số. Lụy người nên mới phải chiều người. Mặc ai chớ để điều ân oán. Chung...

3. Cầm Kỳ Thi Tửu

Đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay, đàn năm cung réo rắt tính tình dây, cờ đôi nước rập rình xe ngựa đó. Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ, (1). Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà. (2). Thú xuất trần, tiên vẩn là ta, sánh...

4. Chí làm trai

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc. Nợ tang bồng (1) vay trả, trả vay. Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây, cho phỉ sức vẩy vùng trong bốn bể. Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. (2). Đã chắc rằng...

5. Chí nam nhi

Thông minh nhất nam tử. Yêu vi thiên hạ kỳ (1). Trót sinh ra thì phải có chi chi, chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu. Đố kĩ sá chi con tạo, nợ tang bồng quyết trả cho xong. Đã xông pha bút trận, thì gắng gỏi kiếm cung, cho...

26 tháng 3 2019

Nổi bật trong sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương là tiếng nói thương cảm đối với người phụ nữ, là sự khẳng định, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ.

Đáp án cần chọn là: C

26 tháng 9 2025

Tác giả Nam Cao đã đưa hình ảnh "bát cháo hành" đi vào tác phẩm "Chí Phèo" một cách vô cùng độc đáo và sâu sắc. Đây không chỉ là một món ăn mà đã trở thành biểu tượng của lòng nhân ái, sự thức tỉnh, và khát vọng hoàn lương của nhân vật Chí Phèo.

1. Bối cảnh và Vai trò của "Bát cháo hành"

"Bát cháo hành" xuất hiện trong tác phẩm khi Chí Phèo, sau một đêm say rượu, bị cảm và ốm nặng.

-Hành động của Thị Nở: Thị Nở đã tự tay nấu và mang đến cho Chí Phèo một bát cháo hành nóng hổi. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời hai mươi năm sống ở làng Vũ Đại, Chí Phèo được nhận sự chăm sóc và quan tâm từ một người phụ nữ, dù đó là người đàn bà "xấu ma chê quỷ hờn."

-Sự khác biệt: Trước đây, Chí Phèo chỉ biết đến rượu, đến chửi bới, và đến những bữa ăn "cướp giật." Bát cháo hành là thứ sạch sẽ, tử tế đầu tiên mà hắn được nhận từ tình người

2. Ý nghĩa Biểu tượng

Bát cháo hành mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, giúp Nam Cao khắc họa thành công bi kịch và khát vọng của nhân vật:

-Thức tỉnh Lương tri: Hơi nóng của bát cháo hành không chỉ làm Chí Phèo đổ mồ hôi giải cảm mà quan trọng hơn, nó đã làm tan chảy lớp vỏ vô cảm, thú vật đã bao bọc hắn suốt bao năm. Hắn "thấy lòng mình mềm hẳn đi," cảm nhận được vị thơm ngon, vị cay nồng và đặc biệt là vị của tình thương.

-Khát vọng Hoàn lương: Sau khi ăn cháo, Chí Phèo lần đầu tiên nghe thấy những âm thanh cuộc sống bình dị (tiếng chim hót, tiếng người bán hàng) mà trước đây hắn không bao giờ nhận ra. Bát cháo hành đã đánh thức khát vọng sống lương thiện, khao khát có một gia đình và một cuộc đời bình thường trong hắn.

-Biểu tượng Tình yêu: Bát cháo hành là hiện thân cụ thể và giản dị nhất của tình yêu thương vô tư, không toan tính của Thị Nở. Đối với Chí Phèo, nó quý giá hơn mọi thứ trên đời vì đó là "cháo hành của người đàn bà khốn khổ cho" và là nguồn sống tinh thần cứu rỗi hắn.

Tóm lại, "bát cháo hành" không chỉ là một chi tiết ẩm thực mà là chi tiết đắt giá nhất trong tác phẩm "Chí Phèo," thể hiện tài năng nghệ thuật của Nam Cao trong việc khám phá và khẳng định bản chất tốt đẹp của con người ngay cả khi bị tha hóa đến mức cùng

6 tháng 9 2019

ð Đáp án A

18 tháng 1 2018

Tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên và Dương Từ - Hà Mậu là sáng tác ở giai đoạn đầu

Đáp án: A