Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Mây đen đang bao phủ tương lai kinh tế của châu Âu khi ba cơn bão đang cùng ập đến: khủng hoảng Hy Lạp, Nga xâm phạm Ukraine và sự nổi lên của các đảng chính trị theo chủ nghĩa dân túy. Mặc dù mỗi cơn bão này đều để lại hậu quả nghiêm trọng, nhưng nền kinh tế vốn được tiếp sức bởi một sự cải thiện theo chu kỳ gần đây cho thấy châu Âu có khả năng đối phó với từng cơn bão một, với nguy cơ chỉ là một số các gián đoạn kinh tế nhất thời. Tuy nhiên, nếu những cơn bão này cùng cộng hưởng với nhau tạo thành một “siêu bão,” thì sự trở lại những ngày nắng ấm sẽ rất khó đoán định được trong tương lai gần.
Thực tế cho thấy ba cơn bão này đang ở những giai đoạn phát triển khác nhau. Cuộc khủng hoảng Hy Lạp, vốn nhức nhối nhiều năm nay, đang trải qua giai đoạn khó khăn nhất. Không chỉ có nguy cơ trở thành thành viên đầu tiên bị loại khỏi khu vực đồng Euro, Hy Lạp còn đứng trước nguy cơ rơi vào trạng thái quốc gia thất bại (failed state) – một kết quả có thể kéo theo hệ lụy đa chiều đối với các quốc gia còn lại ở châu Âu. Việc giảm thiểu những hệ quả nhân đạo bất lợi (liên quan đến việc di cư qua biên giới) và ảnh hưởng địa chính trị của cơn bão này sẽ không phải là một việc dễ dàng.
Cơn bão thứ hai, đến từ khu vực Đông Âu, chính là cuộc xung đột quân sự ở vùng Donbas của Ukraine. Mặc dù đã được kiểm soát phần nào bằng thỏa thuận ngừng bắn Minsk II, cuộc khủng hoảng ở đông Ukraine đánh dấu sự đổ vỡ nghiêm trọng nhất trong quan hệ giữa phương Tây và Nga kể từ khi Liên Xô sụp đổ.
Sự can thiệp sâu rộng hơn của Nga vào Ukraine – một cách trực tiếp và/hoặc thông qua những phiến quân ly khai ở Donbas – sẽ đặt phương Tây trước một lựa chọn khó khăn. Hoặc là phải thắt chặt lệnh trừng phạt đối với Nga mặc dù sẽ phải đối mặt với nguy cơ đẩy châu Âu lâm vào khủng hoảng bởi những lệnh trừng phạt đáp trả từ phía Nga, hoặc là phải chiều theo tham vọng bành trướng của Nga, và đồng nghĩa với việc đặt các quốc gia khác có cộng đồng nói tiếng Nga sinh sống vào thế nguy hiểm (bao gồm các thành viên Baltic của Liên minh châu Âu).
Cơn bão thứ ba – bất ổn chính trị gây ra bởi sự nổi lên của các phong trào chính trị dân túy – tiếp tục là một mối đe dọa nghiêm trọng khác nữa. Được thúc đẩy bởi những bất mãn của các cử tri, đặc biệt là ở các nền kinh tế khó khăn, những phong trào chính trị này có xu hướng tập trung vào một vài vấn đề, cụ thể như dân di cư, nghèo đói, hoặc Liên minh châu Âu – đặc biệt là bất cứ vấn đề nào mà họ có thể đổ lỗi là gây nên những khó khăn trong nước.
Ở Hy Lạp, cử tri đã giúp mang lại một chiến thắng lớn cho đảng Syriza – đảng cực tả đấu tranh chống các biện pháp thắt lưng buộc bụng (mà các chủ nợ áp đặt). Ở Pháp, đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia (National Front) hiện đứng thứ hai trong các cuộc trưng cầu dân ý. Đảng Nhân Dân Đan Mạch (Danish People’s Party) chủ trương chống nhập cư cũng xếp thứ hai theo kết quả bầu cử gần đây với 22% số phiếu bầu. Và ở Tây Ban Nha, Đảng cánh tả chống thắt lưng buộc bụng Podemos cũng đang giành được tỉ lệ ủng hộ hai con số.
Xu hướng cực đoan và cương lĩnh chính trị hạn hẹp của những đảng này đang làm hạn chế tính linh động trong chính sách của các chính quyền bằng khiến các đảng và các chính trị gia ôn hòa chấp nhận những quan điểm cấp tiến. Chính những lo ngại rằng đảng Độc lập ở Anh (một đảng cực hữu, ủng hộ Anh ra khỏi EU – NBT) có khả năng hủy hoại nền tảng chính trị của đảng Bảo Thủ đã khiến thủ tướng David Cameron phải tiến hành trưng cầu ý dân về việc đất nước có nên tiếp tục là thành viên của EU hay không.
Với cả ba cơn bão cùng ập đến, các nhà lãnh đạo châu Âu cần phải hành động nhanh chóng để đảm bảo rằng họ có thể làm đánh tan từng cơn bão một trước khi chúng cộng hưởng lại với nhau và cần phải xử lý bất kỳ đổ vỡ nào mà chúng gây ra một cách hiệu quả. Một tin tốt là những công cụ kiểm soát khủng hoảng trong khu vực đã được củng cố đáng kể thời gian qua, đặc biệt là từ mùa hè năm 2012, khi đồng Euro đứng trên bờ vực sụp đổ.
Trên thực tế, không chỉ có các cơ chế kiểm soát mới như Cơ quan Hỗ trợ Ổn định Tài chính Châu Âu (European Financial Stability Facility) hoạt động hiệu quả, mà những cơ chế đã tồn tại cũng được cải tiến linh hoạt và hiệu quả hơn. Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) đang tham gia vào một sáng kiến thu mua tài sản quy mô lớn – đây là chương trình có thể được mở rộng dễ dàng và nhanh chóng. Đồng thời, bằng nỗ lực của mình, những quốc gia như Ireland, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đã giảm thiểu được nguy cơ bị tác động trước những ảnh hưởng từ các cuộc khủng hoảng lân cận.
Tuy nhiên, những biện pháp chống đỡ này có thể sẽ bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng nếu như những cơn bão này hòa nhập với nhau thành một trận cuồng phong. Chính bởi tính phụ thuộc lẫn nhau rất đặc thù của EU giữa các lĩnh vực kinh tế, tài chính, địa chính trị và xã hội, những ảnh hưởng có sức tàn phá của mỗi cú sốc có thể càng làm khếch đại các cú sốc khác, vượt quá sức kiểm soát của các cơ chế, dẫn đến suy thoái kinh tế, làm sống lại sự bất ổn tài chính và tạo ra những điểm căng thẳng xã hội. Điều này sẽ làm tăng tỉ lệ thất nghiệp vốn đã cao, tạo ra quá nhiều sự mạo hiểm tài chính, cũng như khuyến khích thêm những toan tính của Nga và thúc đẩy phong trào chính trị dân túy đi xa hơn, do vậy càng gây trở ngại cho những chính sách đối phó toàn diện.
May mắn thay, khả năng xảy ra một trận cuồng phong như vậy trong thời điểm hiện nay mới chỉ là nguy cơ, chứ không hẳn là thực tế. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách vẫn phải đặc biệt chú ý đến trận cuồng phong này bởi hậu quả khủng khiếp mà nó có thể mang lại.
Trong hoàn cảnh này, đảm bảo tương lai kinh tế của châu Âu cần trước nhất là một cam kết mới về nỗ lực hội nhập khu vực – hoàn thiện liên minh ngân hàng, củng cố liên minh tài khóa và hướng tới một liên minh chính trị, những thứ đã mất đi sự ưu tiên do một chuỗi các cuộc gặp mặt và họp thượng đỉnh không hồi kết về vấn đề Hy Lạp. Tương tự, các quốc gia cần phải hồi sinh những sáng kiến cải cách kinh tế – thứ có vẻ như gần đây đã bị mất đi tính cấp thiết trước một thị trường tài chính quá mức tự mãn và dễ dãi. Điều này sẽ giúp giảm bớt gánh nặng chính sách đối với ECB, tổ chức hiện nay đang bị buộc phải theo đuổi quá nhiều mục tiêu tham vọng, vượt quá khả năng đem lại những kết quả bền vững về phát triển, việc làm, lạm phát và ổn định tài chính.
Vào năm 2007 tình hình kinh tế của các nước trong khối sử dụng đồng Euro là tương đối ổn định với mức tăng trưởng dương, lạm phát thấp, và mức nợ công là vừa phải, trừ Hy Lạp.
Cuộc khủng hoảng nợ công nổ ra vào cuối năm 2009 đánh dấu nguy cơ tan rã của khối Eurozone, sau những khó khăn kinh tế do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 gây ra. Đó là vấn đề giảm phát, phá sản hoặc tổn thất tài sản của hàng loạt các ngân hàng thương mại Châu Âu do sở hữu nợ xấu ở Mỹ, thị trường nhà đất xuống giá, và tình trạng khan hiếm vốn tín dụng.
Ngoài ảnh hưởng lan truyền từ xu hướng giảm phát toàn cầu trong giai đoạn 2007-2009 do hội nhập sâu rộng và sự phụ thuộc tài chính lẫn nhau, diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng tại Eurozone chủ yếu đến từ các yếu điểm mang tính thể chế, chính sách của Liên minh Châu Âu và khu vực đồng tiền chung.
Về mặt thể chế, việc không có một “chính phủ” chung để điều tiết kinh tế của khu vực gây nhiều trở ngại cho việc phối hợp tìm ra các giải pháp đồng bộ. Tuy sử dụng một đồng tiền chung nhưng các nước trong khu vực Eurozone có đặc điểm cấu trúc kinh tế, cơ sở hạ tầng công nghiệp là khá khác nhau, đưa đến những bất đồng trong chính sách tài khóa cũng như không thống nhất về định hướng chính sách cho khu vực. Đỉnh điểm là bất đồng giữa hai đầu tàu kinh tế Đức – Pháp. Trong khi chính phủ Đức hướng đến một chính sách tài khóa có kiểm soát để giảm thâm hụt ngân sách, phía Pháp có xu hướng đi ngược lại đề xuất chương trình cắt giảm chi tiêu của Đức để kích thích tăng trưởng. Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) chỉ có chức năng bình ổn giá cả trong khu vực Eurozone và bảo đảm dự trữ ngoại hối, mà không có chức năng điều chỉnh bất ổn tài chính, thất nghiệp và tăng trưởng thông qua chính sách tiền tệ như hầu hết các ngân hàng trung ương khác.
Về mặt chính sách đối phó với khủng hoảng, các giải pháp đưa ra tỏ ra không phù hợp với điều kiện kinh tế không đồng nhất của các nước trong khu vực: việc lựa chọn đối sách “thắt lưng buộc bụng” nhằm cắt giảm chi tiêu công ảnh hưởng trực tiếp đến mức đầu tư công, hạn chế các đầu tư cho dài hạn (đặc biệt cho giáo dục, nghiên cứu và phát triển), và không kích thích được cả sản xuất lẫn tiêu dùng. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu ngân sách bắt buộc các chính phủ phải tăng thuế thu nhập cá nhân và các khoản khấu trừ bắt buộc đối với các tổ chức kinh tế (phục vụ cho việc vận hành các cơ quan hành chính trung ương và địa phương).
Ở Pháp, theo báo cáo của Viện Thống kê và Kinh tế quốc gia Pháp (INSEE), năm 2012 các khoản khấu trừ bắt buộc tăng 22 tỷ Euro và thuế thu nhập tăng 5.4 tỷ Euro so với năm 2011. Lợi bất cập hại, kết quả chung của chính sách kiểm soát chi tiêu ngặt nghèo là tăng trưởng thấp, thậm chí âm, thất nghiệp gia tăng, và nợ công tiếp tục gia tăng.
Theo Eurostat, tỷ lệ nợ công so với GDP của 18 nước trong Eurozone tăng từ 83.70% (2010) lên 90.9% (2013). Trong cùng giai đoạn, thất nghiệp tăng từ 10.1% lên 12%, tăng trưởng từ 2% giảm xuống -0.5%.
Thiếu chiến lược đồng bộ, thị trường Eurozone luôn căng thẳng do nợ xấu không được bảo đảm của ECB (trong khi Quỹ dự trữ liên bang Mỹ thực hiện các chính sách tiền tệ không truyền thống), các gói giải cứu - hỗ trợ cho các quốc gia có rủi ro nợ công cao không đi vào giải quyết triệt để các gốc gác của vấn đề (suy thoái, hiệu quả sử dụng vốn vay, chi tiêu công không hiệu quả), và những bất ổn địa chính trị trên thế giới (mâu thuẫn Nga – Ukraina, sự trỗi dậy của nhà nước Hồi giáo, chiến dịch của liên minh quân sự do Mỹ dẫn đầu nhằm vô hiệu hóa Nhà nước Hồi giáo trong nội chiến ở Seria và Iraq) là các yếu tố cộng hưởng đẩy lùi quá trình hồi phục kinh tế ở Eurozone.
Thách thức kinh tế ở mỗi nước thành viên là không giống nhau. Thí dụ, ở Hy Lạp thì sự không chắc chắn về chính trị và lựa chọn chính sách kinh tế (Politico-economic uncertainty) là một vấn đề nan giải. Ở Pháp, gói chính sách trách nhiệm và tương hỗ (pacte de responsabilité et de solidarité) giữa chính phủ, doanh nghiệp và các hộ gia đình nhằm khôi phục tăng trưởng không đạt được sự đồng thuận.
Ngày 08/8 đánh dấu chặng đường 50 năm hình thành và phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). ASEAN đạt được thành tựu về kinh tế và duy trì ổn định nhưng cũng đối mặt thách thức về sự đồng thuận và quan hệ với cường quốc.
Từ một tổ chức với 5 thành viên đầu tiên gồm Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Philippines, ASEAN đã kết nạp thêm Brunei (1984), Việt Nam (1995), Lào và Myanmar (1997) và Campuchia (1999).
"ASEAN đã tạo ra môi trường an ninh ổn định trong khu vực, tăng cường sự tin tưởng giữa các quốc gia thành viên và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hiệp hội cũng giúp củng cố quan hệ của khu vực với các cường quốc và tổ chức quốc tế", Barry Desker, chuyên gia tại trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore, nhận xét.
Năm 2016, tổng GDP của ASEAN đứng thứ sáu trên thế giới và đứng thứ ba ở châu Á với 2,55 nghìn tỷ USD, tăng gấp 4 lần so với năm 1999, năm ASEAN kết nạp thành viên cuối cùng. Dự báo ASEAN sẽ vươn lên ở vị trí thứ năm thế giới vào năm 2020.
Kể từ năm 1967, tốc độ tăng trưởng GDP của ASEAN luôn dương, trừ năm 1998 - đỉnh điểm khủng hoảng tài chính châu Á. Từ năm 1999, tốc độ tăng trưởng GDP của ASEAN dao động từ 2,5% đến 7,5%.
Trong thập kỷ đầu của ASEAN, GDP bình quân đầu người tiến triển chậm. Sau khi phục hồi từ khủng hoảng tài chính châu Á, chỉ số này tăng mạnh từ năm 2002 đến năm 2014, chỉ giảm nhẹ trong năm 2009 (phản ánh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2008). Sự sụt giảm nhẹ cũng được ghi nhận vào năm 2015 trước khi chỉ số tăng đến mức 4.021 USD năm 2016.
Thị trường nội khối ASEAN đóng vai trò lớn trong sự phát triển thương mại của hiệp hội. ASEAN đã đưa vào Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) nhằm mục tiêu cắt giảm loại bỏ các hàng rào thuế quan, tăng hiệu quả thương mại và tăng cường liên kết kinh tế giữa các nước thành viên. Năm 2015, cơ bản các mặt hàng được xóa bỏ thuế quan và 7% tổng số dòng thuế được linh hoạt đến năm 2018.
Theo Endy M. Bayuni, tổng biên tập Jakarta Post, đóng góp quan trọng nhất mà hiệp hội đem đến là 5 thập niên hòa bình giúp cho các nước thành viên có thời gian tập trung nguồn lực xây dựng quốc gia và phát triển kinh tế. ASEAN đã duy trì ổn định ở khu vực Đông Nam Á thông qua thúc đẩy quan hệ hòa bình giữa các quốc gia thành viên. Mặc dù có những tranh chấp, mâu thuẫn giữa các nước, ASEAN đã ngăn được các khác biệt song phương biến thành xung đột lớn.
ASEAN còn thường xuyên ở vị trí chèo lái cho một số sáng kiến ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Các cuộc họp của ASEAN được mở rộng với các nhánh như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) nhằm đưa tất cả lãnh đạo cường quốc thế giới và khu vực châu Á ngồi với nhau thảo luận về an ninh chính trị và kinh tế.
Không chỉ vậy, trong khi chủ nghĩa khu vực có vẻ đã bị ảnh hưởng ở những nơi khác, từ việc Anh rời Liên minh Châu Âu cho đến cuộc khủng hoảng ngoại giao ở vùng Vịnh, ASEAN vẫn tiếp tục thể hiện sự thống nhất và ổn định.
"ASEAN được cho là tổ chức khu vực thành công nhất thế giới", Bayuni nhận định.
Thách thức
Năm 2015, Cộng đồng ASEAN được thành lập với mục đích đưa hiệp hội trở thành "một nhóm hài hòa các dân tộc Đông Nam Á, gắn bó trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc lẫn nhau".
Tuy nhiên, Bayuni chỉ ra vấn đề rằng người dân trong khu vực không cảm nhận được tinh thần cộng đồng đó. Theo ông, chính phủ các nước hiếm khi nói về ASEAN như một cộng đồng. Trong bài phát biểu, họ vẫn chỉ gọi tên là ASEAN. Trong hầu hết cuộc khảo sát, người dân khu vực gần như chưa biết nhiều về ý tưởng cộng đồng và chưa hiểu rõ lợi ích mà nó mang lại.
Ông cho rằng "phải đến khi các quốc gia thành viên quyết định sống cùng nhau với một số nguyên tắc và giá trị chung" thì cộng đồng ASEAN mới thật sự có ý nghĩa.
Thách thức từ bên ngoài cũng là những điểm đáng chú ý. Một số nhà phân tích cho rằng ảnh hưởng của ASEAN ngày càng hạn chế khi đối mặt với áp lực từ Trung Quốc. Các sáng kiến kinh tế của Trung Quốc như Vành đai và Con đường rất hấp dẫn với các nước Đông Nam Á. Chính sách an ninh của Trung Quốc cũng rất khó đối trọng. Hơn nữa, họ thường tác động một số nước để ngăn hội nghị ASEAN ra tuyên bố chung chỉ trích các chính sách của Bắc Kinh, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông, theo John Blaxland, chuyên gia về an ninh quốc tế và nghiên cứu tình báo tại viện ANU Đông Nam Á.
Thách thức trong việc đảm bảo an ninh, an toàn tại Biển Đông, nơi có những diễn biến phức tạp như đơn phương bồi đắp, cải tạo đất và quân sự hóa, là vấn đề nổi cộm. ASEAN và Trung Quốc cuối tuần qua đạt được bước tiến mới, khi nhất trí về dự thảo khung Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Nhưng theo cây bút Laura Zhou của SCMP đây chỉ là khởi đầu cho tiến trình thương lượng sau này. Việc tìm kiếm sự đồng thuận giữa các nước ASEAN hay giữa ASEAN với Trung Quốc trong việc thúc đẩy để văn kiện này có tính ràng buộc về pháp lý, với sự tuân thủ nghiêm túc của các nước liên quan, cũng sẽ là thách thức không nhỏ.
Đồng thuận là nguyên tắc cốt lõi của ASEAN nhưng khác biệt lợi ích giữa các thành viên ngày càng xuất hiện nhiều. Nguyên tắc đồng thuận cho phép mọi quốc gia thành viên, dù lớn hay nhỏ, có tiếng nói như nhau trong quá trình ra quyết định, chính vì vậy, mọi thành viên đều có quyền phủ quyết. Việc đạt được đồng thuận trong các vấn đề nóng ngày càng trở nên khó khăn, đặt ra thách thức với sự đoàn kết của khối.
Theo DW, Avery Poole, chuyên gia từ Đại học Melbourne cho rằng chính quyền mới của Trump cũng đặt ra thách thức với ASEAN. Nhiều người lo ngại rằng dưới thời Trump, Mỹ sẽ rút ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Nếu vậy, sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực có thể gây ra lo ngại.
"Sự tham gia của Trung Quốc trong đầu tư và thương mại được chào đón bởi hầu hết quốc gia Đông Nam Á, nhưng họ không muốn Trung Quốc hoặc bất kỳ cường quốc nào trở nên quá chi phối", Poole nhận xét.
ASEAN sẽ cần nỗ lực cân bằng ảnh hưởng của hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc để bảo vệ lợi ích riêng của mình.
Tuy nhiên, Poole nhấn mạnh rằng không nên quá lo lắng về vấn đề này. "Có thể những dự đoán về việc Mỹ rút ảnh hưởng trong khu vực đã bị phóng đại. Các cố vấn quân sự và chiến lược của Mỹ chắc chắn nhìn thấy tầm quan trọng từ sự hiện diện của Mỹ trong khu vực", ông nói.
Cảm ơn bạn về câu trả lời,nhưng mik vẫn muốn ngắn gọn hơn 1 chút.Nhưng câu trả lời của bạn cũng giúp ích lắm ạ
Lên google đi bn mà cái này chắc cũng ko có đâu vì đòi hỏi phải tư duy và hiểu biết nhiều về những biến đổi chính trị hiện nay ở cuba
1 Nhận xét: Cải tổ được tuyên bố như một cuộc cách mạng nhằm khắc phục những sai lầm thiếu sót trước đây, đưa đất nước thoát khỏi khủng hỏang và xây dựng một chủ nghĩa xã hội theo đúng bản chất và ý nghĩa nhân văn đích thực của nó. Nhưng do không có sự chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết và thiếu một đường lối chiến lược toàn diện, nhất quán, nên công cuộc cải tổ nhanh chóng lâm vào tình trạng bị động, lúng túng, đầy khó khăn.
2 ko biết
Kết luận: ko biết đúng hay sai
Câu 2)
Chiến dịch Biên Giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, khai thông biên giới, mở rộng và củng cố căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc. Đây là chiến dịch do Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức, chỉ huy; Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy. Đây cũng là chiến dịch duy nhất đích thân Chủ tịch nước - Hồ Chí Minh ra mặt trận, trực tiếp chỉ đạo. Trải qua 29 ngày đêm chiến đấu vô cùng quyết liệt, anh dũng và mưu trí của quân và dân ta (16-9/14-10-1950), Chiến dịch tiến công Biên Giới Thu-Đông 1950 đã giành được thắng lợi to lớn.
1. Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới mang tầm chiến lược, tạo bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Sau thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, thực dân Pháp đẩy mạnh việc củng cố hành lang Đông - Tây, đồng thời thực hiện kế hoạch mở rộng phạm vi chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, củng cố tuyến phòng thủ biên giới Đông Bắc. Yêu cầu chiến lược của ta lúc này là phá tan âm mưu phong tỏa biên giới phía bắc của địch, mở đường giao lưu giữa nước ta với các nước anh em để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế. Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950 mở ra và giành được thắng lợi đã biến quyết tâm chiến lược trên đây thành hiện thực. Chiến thắng đó có ý nghĩa lịch sử to lớn, mang tầm chiến lược; là kết tinh sức mạnh tổng hợp của cả nước, thành quả của quân và dân ta suốt cả chặng đường 5 năm (1945-1950) chiến đấu trong vòng vây bốn bề của chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Trong chiến dịch này, ta đã thực hiện thắng lợi trọn vẹn mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra là giải phóng hoàn toàn khu vực biên giới từ thị xã Cao Bằng đến thị trấn Đình Lập (Lạng Sơn), một địa bàn chiến lược xung yếu, tạo nên một thế trận mới vững chắc. Căn cứ địa Việt Bắc-Thủ đô kháng chiến của cả nước được mở rộng và củng cố, trở thành vùng tự do an toàn. Đường giao thông quốc tế được mở rộng nối liền căn cứ địa Việt Bắc với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, qua đó đến Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu. Thế bị bao vây, cô lập của cuộc kháng chiến được khắc phục. Sự nghiệp “kháng chiến, kiến quốc” của ta có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận sự viện trợ về vật chất, vũ khí, trang bị quân sự và học hỏi kỹ, chiến thuật của quân đội các nước anh em, tiếp thu lý luận, kinh nghiệm xây dựng xã hội mới theo nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Thắng lợi này “làm cho toàn dân và toàn quân ta từ Nam chí Bắc vô cùng phấn khởi, tinh thần của quân và dân ta tăng lên một cách nhảy vọt. Mọi người qua thắng lợi đó đều thấy Đảng, Chính phủ, dân tộc mình, quân đội mình và chính mình đã lớn mạnh lên nhiều, rằng kháng chiến lâu dài không phải là vô hạn độ, triển vọng thắng lợi đã nhích lại gần chúng ta hơn trước nhiều, địch đã phải chịu thất bại chua cay và không thể huênh hoang như trước nữa”!(1)
Với thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới, cuộc kháng chiến của ta chuyển mạnh từ hình thái chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn.
Biên Giới Thu - Đông 1950, đối với phía Pháp là một thất bại cay đắng. Giới cầm quyền và tướng lĩnh Pháp cũng phải thừa nhận rằng, thất bại của quân đội Pháp ở biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn trong Thu - Đông 1950 có ảnh hưởng quyết định đối với nửa cuối cuộc chiến tranh, tình thế cuộc chiến đã thay đổi theo hướng bất lợi cho quân Pháp. Trong số các đơn vị bị loại khỏi vòng chiến đấu, có 5 tiểu đoàn cơ động chiến lược, chiếm 55% lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc Bộ (5/9 tiểu đoàn), 41% lực lượng toàn Đông Dương (5/12 tiểu đoàn). Thất bại đó gây hiệu ứng dây chuyền, quân Pháp không chỉ phải rút khỏi toàn bộ Liên khu Biên giới Đông Bắc, mà còn phải rút khỏi các vùng quan trọng khác như Lào Cai, Hòa Bình, Thái Nguyên v.v..; thậm chí phía Pháp phải báo động toàn vùng Bắc Bộ và bàn tính đến chuyện rút lui chiến lược về cố thủ từ miền Trung trở vào.
Thất bại đó đã làm phá sản âm mưu “khóa chặt biên giới Việt - Trung” hòng cô lập cách mạng Việt Nam với các nước anh em; tuyến phòng thủ Liên khu Biên giới Đông Bắc bị xóa bỏ, “hành lang Đông-Tây” bị chọc thủng, chủ trương phòng thủ Đông Dương theo “Kế hoạch Rơ-ve” của Pháp tiêu tan.
Sau thất bại ở Biên Giới, quân Pháp lâm vào tình thế khó khăn, mất quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ. Tâm lý lo lắng về thất bại trên chiến trường không chỉ diễn ra trong đội quân viễn chinh Pháp mà ngày càng lan tràn đến giới cầm quyền chính trị và quân sự Pháp. Tại nước Pháp, phong trào đấu tranh chống “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” của thực dân Pháp ở Đông Dương ngày càng dâng lên mạnh mẽ. Nhiều nghị sĩ trong Quốc hội Pháp lên tiếng công kích Chính phủ theo đuổi cuộc chiến tranh phi nghĩa, hao người, tốn của ở Đông Dương. Cao ủy, Tổng chỉ huy và các tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương mâu thuẫn và tranh cãi quyết liệt về vấn đề tập trung hay phân tán lực lượng để chiếm giữ đất đai, bình định vùng chiếm đóng, giữa giữ đất, giành dân với thu hẹp phạm vi chiếm đóng để bảo toàn lực lượng.
Lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, trót “đâm lao phải theo lao”, thực dân Pháp phải tăng thêm quân cho chiến trường Đông Dương, triệu hồi Cao ủy Phi-nhông (Pignon) và Tổng chỉ huy, tướng Các-păng-chi-ê (Carpentier) về nước và cử tướng Đờ Lát-đờ Tát-xi-nhi (De Latre de Tassigny) sang Đông Dương kiêm luôn cả chức Cao ủy lẫn Tổng chỉ huy. Không những thế, Pháp phải cầu viện Mỹ về vũ khí và phương tiện chiến tranh và chính vì vậy, Pháp phải thỏa hiệp, nhượng bộ quyền lợi cho Mỹ, để Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương, điều mà Pháp không muốn nhưng buộc phải làm.
Có thể nói, Chiến dịch Biên Giới mở ra và giành được thắng lợi đã đáp ứng kịp thời những yêu cầu cấp thiết về chiến lược, đưa cuộc kháng chiến chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ ta giành, giữ và phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, liên tục tiến công địch, đánh tiêu diệt với quy mô ngày càng lớn và giải phóng nhiều vùng đất đai quan trọng, tạo được thế trận mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trước lều dựng tạm trên đường đi chiến dịch Biên Giới 1950.
2. Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau 6 năm kể từ ngày thành lập (22-12-1944) đến Thu - Đông năm 1950, Quân đội nhân dân Việt Nam đã lớn mạnh không ngừng trên mọi phương diện và đã giành được nhiều chiến công xuất sắc. Chiến thắng Biên Giới đánh dấu một bước tiến nhảy vọt của Quân đội ta về nhiều mặt, đặc biệt là về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật. Từ những đợt hoạt động, những chiến dịch nhỏ, đến chiến dịch Biên Giới, lần đầu tiên ta mở chiến dịch tiến công quy mô lớn, tập trung tới 4,5 vạn người, kể cả bộ đội và dân, trong thời gian gần một tháng. Đây là chiến dịch lớn, hiệp đồng một số binh chủng, tiến công vào hệ thống phòng ngự mạnh của địch trên tuyến dài gần 100km. Trong chỉ đạo, ta đã đề ra phương châm tác chiến chiến dịch đúng, lựa chọn chính xác hướng tiến công chủ yếu, kiên quyết và khéo léo tập trung ưu thế binh, hỏa lực, tạo thế trận đánh hiểm, có cách đánh sáng tạo và có hiệu quả. Chiến dịch Biên Giới là một điển hình về đánh vận động, truy kích, nghệ thuật đánh điểm, diệt viện và đánh tiêu diệt trong nghệ thuật tác chiến của quân đội ta. Thành công đó đánh dấu bước trưởng thành của quân đội, chứng tỏ trình độ chỉ huy, kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội ta có sự tiến bộ vượt bậc. Bộ đội ta đã tác chiến tập trung với quy mô lớn hơn so với trước, tiêu diệt được tiểu đoàn địch trong công sự vững chắc và binh đoàn địch trong đánh vận động. Ta đã giữ quyền chủ động trong suốt quá trình chiến dịch, chuyển hóa thế trận tốt, xử lý tình huống tập trung, chia cắt tiêu diệt từng bộ phận dẫn tới tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch trên toàn chiến trường. Bên cạnh đó, trong điều kiện phải chiến đấu dài ngày, tình huống diễn biến mau lẹ, chiến dịch diễn ra trên địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, nhưng công tác bảo đảm hậu cần, bảo đảm vũ khí đạn dược, thông tin liên lạc, cứu chữa và chăm sóc thương bệnh binh, v.v.., vẫn được đảm bảo.
Không chỉ bó hẹp trên chiến trường biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn, Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 cho thấy sự chỉ đạo tác chiến đã phát triển lên tầm cao mới. Khi bộ đội ta tiến công địch ở mặt trận chính Cao Bằng, Lạng Sơn thì LLVT và nhân dân địa phương từ Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn, cả Liên khu 3, Bình Trị Thiên, Nam Trung bộ đến Nam Bộ đều đẩy mạnh các hoạt động phối hợp tiến công địch, “chia lửa” với hướng tiến công chính, buộc chúng phải căng kéo, dàn mỏng lực lượng đối phó ở khắp nơi.
Chính kẻ địch cũng thừa nhận Quân đội nhân dân Việt Nam đến cuối năm 1950 đã “có một phương châm tác chiến vững vàng, điều khiển các trận đánh kế tiếp nhau, gắn bó với nhau một cách mạch lạc và làm cho quân Pháp không kịp thở trên một chính diện rộng lớn từ Đông Khê đến Thất Khê”(2). Trong quá trình Chiến dịch Biên Giới, bộ đội ta đã “thực sự làm chủ tình thế, thay đổi bố trí ban đầu rất nhanh, hướng sự cố gắng vào sự bao vây tiêu diệt quân Pháp”(3). Với cuộc chiến đấu trên đường số 4, Cao Bằng - Lạng Sơn trong Thu - Đông 1950, bộ đội ta “tỏ ra là một quân đội hiện đại, căn cứ vào hình thức tác chiến cũng như sức mạnh trong chiến đấu”(4).
Sau chiến thắng Biên Giới, phát huy thế chủ động chiến lược giành được trên chiến trường chính Bắc Bộ, Bộ Tổng tư lệnh tập trung các trung đoàn chủ lực, thành lập 3 đại đoàn bộ binh (312, 316, 320) và Đại đoàn công pháo 351; liên tiếp tổ chức, chỉ huy các chiến dịch tiến công quy mô lớn ở trung du và đồng bằng, miền núi Bắc Bộ. Đáng kể là: Chiến dịch Trần Hưng Đạo (25-12-1950/18-1-1951), tiến công địch ở trung du Bắc Bộ, từ Đông Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên đến Tây sông Cầu; Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23-3/7-4-1951), tiến công vào tuyến phòng thủ của Pháp trên đường số 18 từ...
tham khảo
Hiệp định Genève 1954 (tiếng Việt: Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954) là hiệp định đình chiến được ký kết tại thành phố Genève, Thụy Sĩ nhằm khôi phục hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định dẫn đến chấm dứt sự hiện diện của quân đội Pháp trên bán đảo Đông Dương và chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương.
tham khảo
Hiệp định Genève 1954 (tiếng Việt: Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954) là hiệp định đình chiến được ký kết tại thành phố Genève, Thụy Sĩ nhằm khôi phục hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định dẫn đến chấm dứt sự hiện diện của quân đội Pháp trên bán đảo Đông Dương và chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương.
Đm máy
vui vaizz
ko còn chx xong bvn toán ek
tôi là ngoại lệ,bà giáo dạy văn lớp tôi cx dạy thêm nay bắt đi học.năm ngoái cx thế, buồn lắm
Ko vì cs btvn sẽ ạ
Nhầm chữ Sẽ tôi viết là ae
khôn vì hôm nay trường mình vẫn đi học