K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

*ét ét các bạn ơi bài văn thời này khó lắm đọc eo hiểu lun ý, có ai biết làm không :((*

                                                        Hội Tây
                                   Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
                                   Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
                                   Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
                                   Thằng bé lom kom nghé hát chèo.
                                   Cây sức cây đu nhiều chị nhún,
                                   Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
                                   Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
                                   Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!.
(Hội tây. Nguyễn Kuyến, theo thơ Nguyễn Kuyến, NXB văn học, 2014).

Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? Chỉ ra các tiếng được gieo vần?
 ....................................................................................................................

Câu 2: Xác định giọng điệu chủ đạo của bài thơ?
.....................................................................................................................
Câu 3: Nêu nội dung của bài thơ?
.....................................................................................................................
Câu 4: Nêu tác dụng của phép đối được tác giả sử dụng trong hai câu:
                                   Cây sức cây đu nhiều chị  nhún,
                                   Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
.....................................................................................................................
*Còn câu 5 và 6 bạn nào thích viết văn thì viết văn nhe :v*
Câu 5: Em cảm nhận được gì về thái độ của tác giả trong bài thơ Hội Tây.
.....................................................................................................................
Câu 6: Chỉ ra ít nhất hai trò chơi dân gian được tác giả nhắc đến trong bài thơ?
.....................................................................................................................
Theo em chúng ta làm gì để giữ gìn những nét văn hóa đó ( viết thành đoạn văn 5-7 câu).
💀
*chúc bạn làm được bài này...ai làm được bạn là học sinh giỏi thi 10 khi biết làm bài này mà không biết thi có ra không, nếu ai thi ra bài này xin chúc mừng bạn*

1
24 tháng 2

Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? Chỉ ra các tiếng được gieo vần?


Bài thơ "Hội Tây" được viết theo thể thơ lục bát. Thể thơ này có đặc điểm là các câu có 6 chữ (lục) và 8 chữ (bát), xen kẽ nhau, với vần ở các chữ thứ 6 và 8.


Các tiếng được gieo vần trong bài thơ:


Vần: reo - treo, trải - chèo, nhún - leo, thế - nhiêu.


Câu 2: Xác định giọng điệu chủ đạo của bài thơ?


Giọng điệu chủ đạo của bài thơ là châm biếm, mỉa mai. Tác giả thể hiện thái độ chế giễu, phê phán sự xa hoa, phù phiếm của hội Tây, từ những trò chơi tốn kém, những cuộc vui mang tính hình thức mà thiếu giá trị văn hóa thực sự.


Câu 3: Nêu nội dung của bài thơ?


Bài thơ "Hội Tây" phản ánh một hội hè diễn ra ở phố xá, với không khí náo nhiệt, tấp nập. Tuy nhiên, qua đó, tác giả Nguyễn Khuê đã bày tỏ sự chỉ trích, chê bai sự phù phiếm, lãng phí và những trò chơi thiếu ý nghĩa. Bài thơ mượn hình ảnh hội hè để phê phán thái độ hưởng thụ, sự thỏa mãn của con người, khi vui chơi mà không quan tâm đến giá trị tinh thần thực sự.


Câu 4: Nêu tác dụng của phép đối được tác giả sử dụng trong hai câu:


Cây sức cây đu nhiều chị nhún,


Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.


Tác dụng của phép đối trong hai câu này là làm nổi bật sự tương phản giữa hai hình ảnh trái ngược. Câu đầu nhắc đến hình ảnh "cây đu" và "chị nhún", phản ánh sự vui chơi nhẹ nhàng, dễ dàng nhưng cũng đầy phù phiếm. Câu sau, "Tham tiền cột mỡ lắm anh leo", phê phán sự tham lam, những người tìm kiếm lợi ích vật chất mà không nghĩ đến hậu quả. Phép đối này làm tăng sức mạnh phê phán và phản ánh sự lố lăng trong các trò chơi thiếu ý nghĩa.


Câu 5: Em cảm nhận được gì về thái độ của tác giả trong bài thơ "Hội Tây"?


Thái độ của tác giả trong bài thơ là phê phán và chê bai. Tác giả không tán thưởng những trò chơi, lễ hội chỉ mang tính hình thức, không có giá trị sâu sắc mà lại tốn kém và thiếu ý nghĩa. Nguyễn Khuê thể hiện sự bất bình với những cuộc vui này, đồng thời chỉ ra sự vô nghĩa của những cuộc vui chỉ chú trọng đến vẻ bề ngoài mà không để tâm đến giá trị tinh thần, văn hóa đích thực.


Câu 6: Chỉ ra ít nhất hai trò chơi dân gian được tác giả nhắc đến trong bài thơ?


Hai trò chơi dân gian được tác giả nhắc đến trong bài thơ là:


Cây đu (trò chơi nhún đu quay, thường có trong các hội làng).


Chèo (trò chơi hát chèo, đặc trưng trong các lễ hội truyền thống).

Tuổi thơ chở đầy cổ tíchDòng sông lời mẹ ngọt ngàoĐưa con đi cùng đất nướcChòng chành nhịp võng ca daoCon gặp trong lời mẹ hátCánh cò trắng, dải đồng xanhCon yêu màu vàng hoa mướp“Con gà cục tác lá chanh”.Khóm trúc, lùm tre huyền thoại,Lời ru vấn vít dây trầu,Vầng trăng mẹ thời con gái,Vẫn còn thơm ngát hương cau.Con nghe thập thình tiếng cốiMẹ ngồi giã gạo nuôi conLạy trời đừng...
Đọc tiếp

Tuổi thơ chở đầy cổ tích
Dòng sông lời mẹ ngọt ngào
Đưa con đi cùng đất nước
Chòng chành nhịp võng ca dao

Con gặp trong lời mẹ hát
Cánh cò trắng, dải đồng xanh
Con yêu màu vàng hoa mướp
“Con gà cục tác lá chanh”.

Khóm trúc, lùm tre huyền thoại,
Lời ru vấn vít dây trầu,
Vầng trăng mẹ thời con gái,
Vẫn còn thơm ngát hương cau.

Con nghe thập thình tiếng cối
Mẹ ngồi giã gạo nuôi con
Lạy trời đừng giông đừng bão
Cho nồi cơm mẹ đầy hơn…

Con nghe dập dờn sóng lúa
Lời ru hoá hạt gạo rồi
Thương mẹ một đời khốn khó
Vẫn giàu những tiếng ru nôi.

Áo mẹ bạc phơ bạc phếch
Vải nâu bục mối chỉ sờn
Thương mẹ một đời cay đắng
Sao lời mẹ vẫn thảo thơm.

Thời gian chạy qua tóc mẹ
Một màu trắng đến nôn nao
Lưng mẹ cứ còng dần xuống
Cho con ngày một thêm cao.

Mẹ ơi trong lời mẹ hát
Có cả cuộc đời hiện ra
Lời ru chắp con đôi cánh
Lớn rồi con sẽ bay xa.

bài này có dùng nhịp 2/2/2 không mọi người, nếu có thì ở những câu nào vậy ạ?

5
1. Tên tuổi : Trần Nhân Tông, tên thật là Trần Khâm  (1258-1308)Quê quán : Thuộc dòng dõi nhà Trần, quê hương ông có nhiều nơi, trong đó có cung Thiên Trường ở Nam Định là nơi ông về thăm và sáng tác thơ. 2. Vị trí của ông trong nền văn học : Là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thời đại nhà Trần, với "tiếng ngân trong đến thẳm sâu" trong lịch sử thi ca Việt Nam.  Ông được...
Đọc tiếp

1. Tên tuổi : Trần Nhân Tông, tên thật là Trần Khâm  (1258-1308)

Quê quán : Thuộc dòng dõi nhà Trần, quê hương ông có nhiều nơi, trong đó có cung Thiên Trường ở Nam Định là nơi ông về thăm và sáng tác thơ. 

2. Vị trí của ông trong nền văn học :

  • Là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thời đại nhà Trần, với "tiếng ngân trong đến thẳm sâu" trong lịch sử thi ca Việt Nam. 
  • Ông được xem là một trong những bậc hiền tài, có tầm nhìn sâu sắc về văn hóa và tư tưởng.
  • 3. Đề tài và phong cách sáng tác :
  • Đề tài:  Chủ yếu xoay quanh tư tưởng Phật giáo "cư trần lạc đạo" (ở đời mà vui với đạo), thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa đời và đạo, giữa triết lý Thiền và cuộc sống. Ông cũng viết về tình yêu đất nước, lòng yêu thương dân tộc và những suy ngẫm về cuộc đời. 
  • Phong cách:  Giản dị, hồn hậu, mang âm hưởng Thiền sâu sắc, gợi mở thế giới tinh thần thanh khiết. 

    4.Những tác phẩm chính :

    • Thơ:  Ông sáng tác nhiều bài thơ hay, tiêu biểu có:
      • Cư trần lạc đạo phú (15)
      • Thiên Trường vãn vọng
      • Đại Hương Hải Ấn thi tập
    • Sách:  Ngoài ra, ông còn viết các sách như Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ NgữTrung Hưng Thực LụcTruyền Đăng Lục.
    • Di huấn:  Bài kệ Pháp thân thường trụ trước khi nhập diệt là lời huấn ca của Ngài.
0
Họ tên thật:Nguyễn Kim Thành. Năm sinh:1920. Năm mất:2002.  2. Vị trí trong nền văn họcTố Hữu được coi là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng và kháng chiến ở Việt Nam.Ông là nhà thơ của cách mạng, nhà thơ của nhân dân, người đã "định hình nền thơ ca cách mạng Việt Nam".Tên ông đã được đặt cho nhiều trường học, đường phố, trung tâm văn hóa trên khắp cả nước để tưởng nhớ...
Đọc tiếp
  • Họ tên thật:Nguyễn Kim Thành. 
  • Năm sinh:1920. 
  • Năm mất:2002. 
2. Vị trí trong nền văn học
  • Tố Hữu được coi là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng và kháng chiến ở Việt Nam.
  • Ông là nhà thơ của cách mạng, nhà thơ của nhân dân, người đã "định hình nền thơ ca cách mạng Việt Nam".
  • Tên ông đã được đặt cho nhiều trường học, đường phố, trung tâm văn hóa trên khắp cả nước để tưởng nhớ những đóng góp to lớn của ông. 
3. Đề tài sáng tác
  • Cách mạng và dân tộc:Thơ ông gắn liền với lịch sử dân tộc và các cuộc kháng chiến, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa cộng sản. 
  • Chủ nghĩa nhân văn cách mạng:Phản ánh những tình cảm lớn, lẽ sống lớn của con người cách mạng và tinh thần đoàn kết dân tộc. 
  • Chân dung Bác Hồ:Tố Hữu đã dành nhiều bài thơ đặc sắc để ca ngợi vị lãnh tụ vĩ đại, với hình tượng hóa cao độ. 
4. Phong cách sáng tác
  • Trữ tình chính trị:Thơ ông mang đậm tính trữ tình, thể hiện tâm tư tình cảm của tác giả và đất nước một cách sâu sắc. 
  • Đậm tính sử thi:Thơ phản ánh trực tiếp các sự kiện lịch sử lớn của đất nước, mang tính sử thi. 
  • Tính dân tộc:Sử dụng thể thơ lục bát, thất ngôn, ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, phát huy tính nhạc của tiếng Việt. 
  • Sự thống nhất giữa đời thơ và đời cách mạng:Cuộc đời và sự nghiệp thơ của Tố Hữu luôn hòa quyện, thăng hoa cùng sự nghiệp cách mạng của dân tộc. 
5. Các tác phẩm chính
  • Từ ấy
  • Việt Bắc
  • Ra trận
  • Gió lộng
  • Máu và hoa
  • Theo chân Bác 
1
Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn quê tại Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà NamVị trí trong nền văn hoc: Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Ông đỗ đầu cả ba kì thi nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên ĐổĐề tài sáng tác:Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm...
Đọc tiếp

Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn quê tại Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

Vị trí trong nền văn hoc: Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Ông đỗ đầu cả ba kì thi nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ

Đề tài sáng tác:Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm với nhiều đề tài phong phú, từ tình yêu quê hương, đất nước đến những suy tư về cuộc đời và con người. 

Phong cách sáng tác: Nguyễn Khuyến đã đưa cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống thân thuộc, bình dị của làng quê vào trong thơ một cách tự nhiên tinh tế. Ngòi bút tả cảnh của ông vừa chân thực vừa tài hoa; ngôn ngữ thơ giản dị mà điêu luyện

Các tác phẩm chính: thu vịnh ,thu điếu ,thu ẩm

0

tác giả Nguyễn Bính đã khắc họa hai vẻ đẹp đối lập mà thống nhất của con người và mảnh đất Việt Nam qua hai khổ thơ trong bài "Quê hương". Khổ đầu tiên mở ra không gian văn hóa đậm chất thơ mộng, nơi con người gắn bó với âm nhạc và thi ca từ khi còn trong bụng mẹ.Hình ảnh "tiếng hát, "làm thơ" không chỉ thể hiện sự lãng mạn, hồn hậu mà còn là nét tính cách đặc trưng của người dân quê. Cánh cò đưa võng, vốn là hình ảnh bình dị, nay trở thành biểu tượng nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ trong một không gian yên bình. tuy nhiên, khi quê hương lâm nguy, vẻ đẹp hiền hòa bỗng chốc hóa thành sức mạnh quật cường. Khổ thơ thứ hai chuyển sang giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng. Tre làng, vốn thân thuộc, nay "xả thân làm ngọn mác, mũi chông", trở thành vũ khí chiến đấu. Con người, từ "trai gái thôn Đông, xóm Bắc" hiền lành, chất phác, đã "thoắt vươn vai thành những anh hùng".Hai khổ thơ này bổ sung cho nhau, tạo nên cái nhìn toàn diện về quê hương: vừa có vẻ đẹp trữ tình, thanh bình trong cuộc sống thường nhật, vừa chứa đựng sức mạnh tiềm tàng,tinh thần kiên cường khi đối diện với kẻ thù

Hai khổ thơ trong bài "Quê hương" của Nguyễn Bính thể hiện tình cảm sâu sắc của tác giả đối với mảnh đất quê hương, đồng thời ca ngợi những phẩm chất đặc biệt của con người nơi đây.

Khổ thơ đầu tiên gợi ra hình ảnh một quê hương gắn liền với những âm thanh của làn điệu dân ca, là nơi mà trong "bụng mẹ" đã biết mê tiếng hát. Đây là một hình ảnh đầy chất thơ, cho thấy sự hòa quyện giữa con người và quê hương, nơi mà truyền thống văn hóa, đặc biệt là văn học, đã ăn sâu vào tiềm thức từ những ngày đầu đời. Tiếng hát quê hương không chỉ là biểu tượng của sự ấm áp, yêu thương mà còn phản ánh bản sắc dân tộc trong mỗi con người nơi đây.

Khổ thơ thứ hai chuyển hướng, thể hiện tinh thần yêu nước, đấu tranh bảo vệ quê hương. Những "tre làng" trở thành "ngọn mác, mũi chông", tượng trưng cho sự kiên cường của con người khi đối mặt với kẻ thù. Các trai gái thôn Đông, xóm Bắc “thoắt vươn vai thành anh hùng", khẳng định tinh thần bất khuất và sức mạnh đoàn kết của nhân dân trong những giờ phút khó khăn.

Như vậy, qua hai khổ thơ, tác giả Nguyễn Bính đã khắc họa vẻ đẹp của quê hương trong cả khía cạnh văn hóa lẫn tinh thần chiến đấu kiên cường.

Họ và tên. năm sinh năm mất, quê quán: sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835, mất ngày5tháng2năm1909 - : Quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quê nội của ông ở làng Vị Hạ (tục gọi là làng Và), xã Yên Đổ nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.2 Vị Trí của ông trong nền văn họcNguyễn Khuyến là một trong nhà thơ cuối cùng của thời trung đại, được mệnh danh...
Đọc tiếp

Họ và tên. năm sinh năm mất, quê quán: sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835, mất ngày5tháng2năm1909 - : Quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quê nội của ông ở làng Vị Hạ (tục gọi là làng Và), xã Yên Đổ nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

2 Vị Trí của ông trong nền văn học

Nguyễn Khuyến là một trong nhà thơ cuối cùng của thời trung đại, được mệnh danh là “nhà thơ của dân tình và làng cảnh Việt Nam”. Thơ của ông luôn nhẹ nhàng, thấm đẫm bài học về triết lý nhân văn sâu sắc.

3 Đề Tài sáng tác của ông:

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khuyến trải dài qua nhiều thể loại văn học nhưng nổi bật nhất vẫn là thơ. Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm với nhiều đề tài phong phú, từ tình yêu quê hương, đất nước đến những suy tư về cuộc đời và con người

4 Phong cách sáng tác

Phong cách sáng tác của Nguyễn Khuyến nổi bật với sự giản dị, sâu sắc và tinh tế, thể hiện tình yêu quê hương và cuộc sống nông thôn qua những bài thơ trữ tình và châm biến

5 Những tác phẩm chính

Sáng tác của Nguyễn Khuyến gồm cả chữ Hán và chữ Nôm với số lượng lớn, hiện còn trên 800 bài gồm thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ. - Các tác phẩm gồm có Quế Sơn Thi Tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu Thi Văn Tập,... cùng nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng.





0
18 tháng 9 2025

Em trả lời chưa đầy đủ, cụ thể những yếu tố đặc trưng của truyện lịch sử được thể hiện qua văn bản.

4 đ