Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Hệ thần kinh có vai trò điều khiển và phối hợp mọi hoạt động của cơ thể, giúp cơ thể tiếp nhận kích thích từ môi trường và đưa ra phản ứng phù hợp.
Các bộ phận chính của hệ thần kinh gồm:
1 Não bộ – Trung tâm điều khiển cao nhất, xử lý thông tin, điều khiển các hoạt động có ý thức và vô thức.
2 Tủy sống – Truyền xung thần kinh giữa não và các cơ quan, đồng thời điều khiển phản xạ (như rụt tay khi chạm vào vật nóng)
3 Tủy thần kinh – Dẫn truyền tín hiệu giữa cơ quan cảm thụ, não, tủy sống và các cơ quan phản ứng (cơ, tuyến).
Ví dụ: Khi chạm vào vật nóng, da cảm nhận kích thích → dây thần kinh truyền tín hiệu đến tủy sống → tủy phát lệnh làm rụt tay lại – đó là phản xạ bảo vệ.
P/S: from ChatGPT:))))
Hệ thần kinh có vai trò điều khiển và phối hợp mọi hoạt động của cơ thể, giúp cơ thể tiếp nhận kích thích từ môi trường và đưa ra phản ứng phù hợp. Các bộ phận chính của hệ thần kinh gồm: 1 Não bộ – Trung tâm điều khiển cao nhất, xử lý thông tin, điều khiển các hoạt động có ý thức và vô thức. 2 Tủy sống – Truyền xung thần kinh giữa não và các cơ quan, đồng thời điều khiển phản xạ (như rụt tay khi chạm vào vật nóng) 3 Tủy thần kinh – Dẫn truyền tín hiệu giữa cơ quan cảm thụ, não, tủy sống và các cơ quan phản ứng (cơ, tuyến) .
Là như vậy đã chi tiết chưa.
Trao đổi chất giữa cơ thể người và môi trường
Trong quá trình sống, cơ thể người lấy từ môi trường:
Thức ăn (cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng)
Nước uống (duy trì hoạt động của tế bào)
Không khí (đặc biệt là khí oxy để hô hấp)
Và thải ra môi trường:
Phân và nước tiểu (chất thải từ quá trình tiêu hóa và lọc máu)
Khí carbonic (CO₂) (sản phẩm phụ của hô hấp tế bào)
Mồ hôi (giúp điều hòa thân nhiệt và thải chất dư thừa)
Các cơ quan bên trong của cá thể hiện sự thích nghi với đời sống ở nước là mang (là cơ quan hô hấp lấy ôxi hòa tan trong nước và thải C02 ra môi trường nước) và bóng hơi (có tác dụng làm tăng khối lượng riêng khi cá lặn và giảm khối lượng riêng khi cá ngoi lên.
Các cơ quan bên trong của cá thể hiện sự thích nghi với đời sống ở nước là mang (là cơ quan hô hấp lấy ôxi hòa tan trong nước và thải C02 ra môi trường nước) và bóng hơi (có tác dụng làm tăng khối lượng riêng khi cá lặn và giảm khối lượng riêng khi cá ngoi lên.
Sán lá, sán (lây xâm nhập vào cơ thề chủ yếu qua con đường tiêu hóa. Riêng sán lá máu, ấu trùng thâm nhập qua da. Vì vậy, cần phải
ăn uống vệ sinh, thức ăn nấu chín (không nên ăn thịt tái, tiết canh), uống nước đun sôi để nguội. Khi tấm rửa, cần chọn nơi nước sạch, tránh gặp phải ấu trùng sán lá máu.
Ở nước ta, tỉ lệ mắc bệnh sán lá gan, sán lá máu ở người cao.
Sán lá gan, sán dây máu xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường tiêu hóa. Riêng sán lá máu, ấu trùng thâm nhập qua da.Vì vậy, cần ăn uống hợp vệ sinh, thức ăn nấu chín (không nên ăn thịt tái, tiết canh), uống nước đun sôi để nguội. Khi tắm rửa, cần chọn nơi nước sạch, tránh gặp phải ấu trùng sán lá máu.
Cá voi có quan hệ họ hàng gần với hươu sao hơn hay cá chép hơn?
Cá voi có quan hệ họ hàng gần với hươu sao hơn cá chép. Vì cá voi thuộc lớp Thú bắt nguồn từ nhánh tiến hóa có gốc cùng với hươu sao. Trong khi đó cá chép lại thuộc lớp có xương, là động vật bậc thấp hơn với lớp Thú.
- Cơ thề có đối xứng tỏa tròn;
- Thành cơ thê đều có 2 lớp tế bào: lớp ngoài, lớp trong, giữa 2 lớp này là tầng keo;
- Đều có tế bào gai tự vệ, ruột dạng túi, miệng vừa là nơi thu nhận ăn vừa là nơi thải chất cặn bã
- Những loài cá sống ở tầng mặt nước, không có chỗ ẩn náu như cá nhám, cá trích... dể tránh kẻ thù, chúng có mình thon dài, khúc đuôi to khỏe, bơi nhanh.
- Những loài cá sông ở tầng giữa và tầng đáy như cá chép, cá giếc... có thân tương đối ngắn, khúc đuôi yếu, thường bơi chậm.
- Những loài cá sống chui luồn ở đáy bùn như lươn, cá chạch có mình rất dài, vây ngực và vây hông tiêu giảm.
- Loài cá sông ở đáy biển như cá bơn thì thân dẹp, mỏng, hai mắt nằm ở mặt lưng, vây đuôi và vây hông rất nhỏ, nằm nghiêng, bơi chậm bằng cách uốn mình theo chiều ngang cơ thể.
- Những loài cá sống ở đáy sâu hàng nghìn mét có ánh sáng rất yếu hoặc không có ánh sáng thì có mất rất lớn để tiếp thu ánh sáng yếu hoặc mắt không phát triển, râu và tua rất dài; một số loài có cơ quan phát sáng ở đầu.
- Những loài cá sống ở tầng mặt nước, không có chỗ ẩn náu như cá nhám, cá trích... dể tránh kẻ thù, chúng có mình thon dài, khúc đuôi to khỏe, bơi nhanh.
- Những loài cá sông ở tầng giữa và tầng đáy như cá chép, cá giếc... có thân tương đối ngắn, khúc đuôi yếu, thường bơi chậm.
- Những loài cá sống chui luồn ở đáy bùn như lươn, cá chạch có mình rất dài, vây ngực và vây hông tiêu giảm.
- Loài cá sông ở đáy biển như cá bơn thì thân dẹp, mỏng, hai mắt nằm ở mặt lưng, vây đuôi và vây hông rất nhỏ, nằm nghiêng, bơi chậm bằng cách uốn mình theo chiều ngang cơ thể.
- Những loài cá sống ở đáy sâu hàng nghìn mét có ánh sáng rất yếu hoặc không có ánh sáng thì có mất rất lớn để tiếp thu ánh sáng yếu hoặc mắt không phát triển, râu và tua rất dài; một sô" loài có cơ quan phát sáng ở đầu.


Phía giữa khoang thân, sát với sống lưng có 2 thận màu tím đỏ, nằm 2 bên cột sống, thận cá thuộc thận giữa (trung thận), còn đơn giản, có chức năng lọc máu, thải các chất không cần thiết ra ngoài nhưng khả năng lọc chưa cao.
→ Đáp án B