Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Bài thơ trước hết sâu sắc hơn cả vẫn là những câu thơ thể hiện niềm yêu quý thiết tha và nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với quê hương, đồng bào
- Trong nỗi hiu quạnh của những buổi trưa thương nhớ, Tố Hữu trở về với những điều thân thuộc
+ Ruồng tre mát thơ
+ Ô mạ xanh mơn mởn
+ Nương khoai sắn ngọt bùi
- Trở về trong tâm tưởng với cảnh quê, Tố Hữu với những “xóm nhà tranh” những con người “lưng cong xuống luống cày/ mà bùn hi vọng nức hương ngây”
→ Đồng quê được hình dung rõ ràng, cụ thể bằng đường nét, hình ảnh, màu sắc, âm thanh, hương vị...
- Âm điệu như tiếng than về nỗi quạnh hiu, cùng cực người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời
Trong bài thơ "Việt Bắc", đặc biệt ở đoạn thơ "Nhớ gì như nhớ người yêu... nhớ đồng", Tố Hữu đã dệt nên một thế giới cảm xúc nhớ thương da diết bằng những hình ảnh giàu sức gợi. Hình ảnh “mặt người” thấp thoáng trong “ánh trăng”, “rừng núi” vang vọng “tiếng hát ân tình thuỷ chung” không chỉ thể hiện nỗi nhớ mà còn gợi lên mối giao hoà giữa con người và thiên nhiên Việt Bắc. Đặc biệt, chi tiết “nhớ đồng” – tuy mộc mạc – lại chứa đựng nỗi niềm sâu sắc: nhớ cánh đồng kháng chiến gian lao, nơi gắn bó máu thịt giữa quân dân. Những hình ảnh ấy hòa quyện vào nhau, tạo nên một không gian nghệ thuật tràn đầy cảm xúc – nơi nỗi nhớ không chỉ hướng về cảnh vật mà còn về nghĩa tình, về lòng thuỷ chung son sắt của người ra đi với mảnh đất cách mạng. Chính điều đó làm nên chất trữ tình cách mạng rất riêng trong thơ Tố Hữu
Bài thơ “Nhớ đồng” của Tố Hữu là tiếng lòng tha thiết của người chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nhưng trái tim vẫn hướng về quê hương và tự do. Thế giới cảm xúc “nhớ đồng” được dệt nên từ những hình ảnh dân dã, đậm hồn quê: “gió đưa cành trúc la đà”, “con trâu đằm bóng”, “mùi rơm rạ”, “tiếng sáo diều vi vu”… Mỗi chi tiết như một nét chấm mềm mại gợi lên bức tranh đồng quê thanh bình, ấm áp tình người, nơi chất chứa bao kỷ niệm thân thương. Từ nỗi nhớ cảnh vật, nhà thơ hướng đến nỗi nhớ con người, nhớ cuộc sống lao động tự do, để rồi khát vọng được trở về với đồng ruộng, với cách mạng càng trở nên mãnh liệt. Giữa ngục tù tối tăm, hình ảnh đồng quê đã sưởi ấm tâm hồn người chiến sĩ, biến nỗi nhớ thành sức mạnh tinh thần, niềm tin vào ngày mai tươi sáng của đất nước
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
- Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
- Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
- Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
- Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
- Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
- Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Không mâu thuẫn, vì tình yêu chân thành thường đi kèm nhiều cung bậc cảm xúc, nhân vật trữ tình tha thiết yêu thương nên luôn nhớ nhung, khao khát được đáp lại, còn chút trách móc thể hiện nỗi buồn, sự tủi thân khi tình cảm chưa được hồi đáp, đó là biểu hiện rất tự nhiên của tình yêu sâu sắc chứ không làm giảm đi sự chân thành
Nỗi nhớ và những lời kể, trách móc, mơ tưởng, ước vọng xa xôi của chàng trai
- Tâm trạng mong nhớ tha thiết “chín nhớ mười mong”
- Trách móc để bộc lộ nỗi tương tư của mình (cớ sao bên ấy chưa sang bên này?)
- Tâm trạng mong ngóng, trông đợi, mòn mỏi:
+ Câu thơ “ngày qua ngày lại qua ngày”, ngắt nhịp 3/3, chữ “lại” diễn tả vòng thời gian trôi lặp lại trong sự vô vọng
+ Lấy sự chuyển đổi màu sắc “lá xanh” thành “lá vàng” chỉ thời gian chờ đợi
+ Nỗi nhớ mong kéo dài theo năm tháng
→ Cách diễn đạt tinh tế, giàu ý nghĩa
- Những ước vọng xa xôi:
+ Trong ao ước có sự vô vọng: hình ảnh bến, hoa, đò khó “gặp” nhau.
+ Chàng trai quê sống những nỗi tương tư, vẫn mang những niềm ước vọng xa xôi
+ Đáng lí phải nói “cau thôn Đoài” nhớ “trầu thôn Đông” nhưng tác giả nói chệch đi, nỗi nhớ nhung vẫn không thay đổi.
- Nỗi mong nhớ kéo dài tới cuối bài thơ nhưng không được đền đáp để tâm trạng nhân vật trữ tình bộc lộ tha thiết, sâu sắc.
Câu 1. Tri thức ngữ văn, thơ trữ tình là thể loại dùng cảm xúc, suy nghĩ của tác giả để bộc lộ tâm trạng trước con người và cuộc sống, ngôn ngữ thơ cô đọng, giàu hình ảnh, nhạc điệu, thường sử dụng biện pháp tu từ để tăng sức gợi cảm
Câu 2. Tác giả Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920, mất năm 2002, quê ở Thừa Thiên Huế, là nhà thơ lớn của thơ ca cách mạng Việt Nam, thơ ông giàu tính trữ tình chính trị, thể hiện lí tưởng cách mạng, tình yêu quê hương đất nước và niềm tin vào nhân dân
Câu 3. Bài thơ Nhớ Đồng được sáng tác khi Tố Hữu bị giam trong nhà lao Thừa Phủ, bài thơ thể hiện nỗi nhớ da diết cuộc sống bên ngoài, nhớ cánh đồng quê, nhớ người dân lao động, đồng thời thể hiện tâm trạng cô đơn, ngột ngạt trong cảnh tù đày và khát vọng tự do, qua đó cho thấy tình yêu quê hương, yêu cuộc sống và ý chí cách mạng của nhà thơ

=> Đáp án A