Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
BPTT so sánh “Dưới manh áo nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết” [so sánh con người với con vật, lại là con vật chết] → Đây là 1 hình ảnh đầy ám ảnh, khắc sâu sự nghèo khổ, tội nghiệp, đáng thương của nhà bác Lê.
Nhân vật chính trong văn bản là bác Lê. Đó là một người phụ nữ cực khổ [đông con, nghèo đói, phải đi làm thuê làm mướn] song giàu tình thương con, chịu thương chịu khó [dậy sớm đi làm thuê suốt 4 mùa, bất kể nắng mưa, rét mướt; ủ ấm cho đàn con].
Năm giờ sáng, lúc ông trời còn đang ngủ, tôi dậy chuẩn bị ra bến xe. Trời tờ mờ sáng, xe lăn bánh tiến về phía Nam. Ngồi trên ô tô, cảnh vật bên đường như chạy qua mắt tôi. Nhìn cảnh đẹp mà lòng tôi cứ lâng lâng nghĩ về quê hương biết bao tươi đẹp của mình. Gần trưa, xe đến nơi. Tôi bước xuống xe, đi về phía làng Rạng bên bờ sông Lam xanh mát. Đường làng tôi! Đường làng tôi đây rồi! Con được mẹ đất quen thuộc vẫn như ngày nào, trải dài suốt hai bờ ruộng, bãi ngô về đến nhà, tôi chạy ào vào gọi bà. Bà đang cho gà ăn trước sân, vui mừng, xúc động khi nhìn thấy tôi. Bà múc nước giếng cho tôi rửa mặt. Dòng nước mát lạnh như xua hết bao mệt nhọc trên đường đi. Buổi chiều, tôi cùng ba mẹ ra thăm mộ ông trên đồi cao. Sau khi thắp hương cho ông, tôi quay ra hít thở khí trời. Đứng ở đây, tôi có thể nhìn thấy mọi cảnh vật xung quanh.
Xa xa, những ngọn núi trùng điệp thấp thoáng sau làn mây trắng mềm mại, nhẹ tênh như dải lụa. Từ chân núi phía xa trải đến chân đồi bên này là một cánh đồng lúa mênh mông. Lúa đang thì con gái, bông nặng trĩu, vàng ươm. Nắng nhạt phủ lên cánh đồng và những bãi ngô trù phú một lớp nắng nhẹ của buổi chiều. Bãi ngô non nở hoa nâu giản dị, râu ngô cũng nâu theo. Từng búp ngô non từ trong lá chui ra, tươi cười hớn hở, để lộ ra bao cái răng vàng loá. Từng đàn cò trắng thi nhau liệng xuống đồng làm duyên, rỉa lông rỉa cánh rồi lấy đà bay vút lên trời xanh. Nắng cũng kịp rác lên bờ sông Lam một chút nắng vàng hoc lấp lánh. Sông Lam mùa này nước xanh, trong vắt, từng đàn cá tung tăng bơi lội. Cá uốn lượn mấy vòng dưới nước như vận động viên bơi lội, có con nhảy lên hụp xuống như nhảy múa thật vui. Dưới chân đồi, những cậu bé cô bé đang vui vẻ nô đùa, mặc cho đàn bò gặm cỏ no đó để rồi cuối buổi chiều, bọn trẻ dắt bò về nhà. Những con bò đã no căng bụng lững thững theo chủ về nhà. Nhìn ra xa một chút, hiện lên những ngôi nhà ngói gạch đỏ tươi. Đống rơm chất cao giữa sân vàng giòn, có thể cháy ngay tức khắc nếu có một ngọn lửa châm vào. Trên bờ tường rêu phủ kín xanh mượt, hòa vào đám lá mướp xanh ngát, làm nổi bật lên những bông hoa mướp vàng tươi nở xòe; từng nụ mướp chúm chím, e thẹn, khẽ nấp sau chiếc lá. Tôi đi xuống đồi. Đồi khá dốc, cào cào, châu chấu nhảy loạn xạ. Mặt Trời ngả bóng, hoàng hôn buông xuống phủ lên cảnh vật một màu đỏ bình yên. Bầu trời dần chuyển sang màu xanh tím. Buổi tối, sau khi ăn cơm, tôi đi thăm bà con làng xóm và kể cho bà nghe chuyện ở Thủ đô.
Ba ngày sau, tôi về Hà Nội. Lúc chia tay bà, tôi rơm rớm nước mắt. Bà ôm tôi, bàn tay gầy gò của bà khẽ xoa lên đầu tôi khiến tôi chẳng muốn rời xa bà, xa quê hương. Nhưng dù đi đâu tôi cũng không thể quên được hình ảnh bà và câu hát thân thương: Nước sông Lam vừa trong vừa mát. Đường đi chợ Rụng lắm cát dễ đi.
Tả lại một cảnh đẹp mà em có dịp quan sát Mẫu 2
Trong kỳ nghỉ hè vừa qua, gia đình em đã tổ chức đi chơi ở Vũng Tàu trong vòng một tuần. Em rất phấn khởi vì từ lâu em đã ao ước được nhìn ngắm bãi biển xanh trong ấy.
Sáng, khoảng bốn năm giờ. Gia đình em lên xe và lên đường đến Vũng Tàu. Gần trưa xe mới tới nơi. Em bước xuống xe và đưa mắt quan sát. ôi! Em thốt lên. Ánh nắng hắt xuống biển làm mặt nước biển lóng lánh một cách rực rỡ. Nước biển trong suốt lộ ra cho em thấy bãi cát gợn đều rất lạ. Em chưa kịp ngắm hết quang cảnh ở đó thì phải phụ ba mẹ xách đồ đạc về phòng trọ.
Phòng trọ cũng rất tiện nghi. Nhưng điều làm em thích nhất là phòng trọ có một cửa sổ, mà đứng ở cửa sổ thì có thể nhìn thấy bãi biển. Sau khi ngủ một giấc lấy lại sức em thay đồ rồi chạy ra biển. Biển lúc này có một màu xanh đục. Nắng dịu trải dài trên bãi cát trắng. Chốc chốc lại có những cơn gió thoảng qua làm đung đưa những tàu dừa xanh mơn mởn.
Em bước từng bước trên bãi cát mịn và nóng xuống biển. Nước biển mát rượi làm em sảng khoái lạ thường. Lúc này trên bờ chỉ còn lác đác những du khách tham quan đang hối hả về cho kịp chuyến xe. Những con dã tràng nhanh chóng chạy về tổ. Nắng đã tắt hẳn, em phải trở về phòng với vẻ luyến tiếc.
Buổi tối, em đứng ở cửa sổ nhìn về phía bãi biển. Lúc này bãi biển chỉ toàn một màu đen, nhưng em có thể trông thấy những đợt sóng trắng xóa ập vào liếm lên bãi cát. Em có thể nghe thấy tiếng sóng rì rào như một bản tình ca dịu dàng đưa em vào giấc ngủ.
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:
→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.
Câu 3.
- Sự thay đổi điểm nhìn:
Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích. - Tác dụng:
Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.
Câu 4
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:
- Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
- Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
→ Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện. - Câu 5.
Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
• Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).
Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.
Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý:
• Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.
• Tác dụng:
• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.
• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).
• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.
Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?
• Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):
• Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).
• Bộc lộ tính cách nhân vật:
• Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).
• Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.
Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)
• Bài học:
• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.
• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.
• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.
• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.
Tìm và phân tích nghĩa tình thái có trong đoạn văn:
- Định: đánh giá sự việc chưa xảy ra.
- Phải: khẳng định tính tất yếu của sự việc.
- Thật sự: khẳng định tính chân thực của sự việc.
Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Trong đoạn trích Một đám cưới, nhân vật Dần hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho số phận trẻ em nghèo trước Cách mạng tháng Tám. Dần mới mười hai tuổi, còn quá nhỏ để phải rời gia đình đi ở đợ. Em vẫn là một đứa trẻ non nớt, chỉ mới “cầm vững cái chổi để quét nhà”, vậy mà đã phải lao vào cuộc sống cực nhọc. Qua đó, Nam Cao cho thấy sự cơ cực, bế tắc của người nông dân nghèo: vì miếng cơm manh áo mà cha mẹ đành gửi con đi làm thuê để đỡ một miệng ăn. Dần là một đứa trẻ đáng thương, phải hi sinh tuổi thơ và tương lai bởi cảnh nghèo đói. Tuy nhiên, phía sau câu chuyện còn thể hiện tình thương con sâu sắc của cha mẹ Dần. Họ đau lòng, lo lắng cho con nhưng bất lực trước hoàn cảnh. Với ngòi bút hiện thực và giàu tính nhân đạo, Nam Cao đã bày tỏ niềm xót thương đối với những số phận nghèo khổ trong xã hội cũ, đồng thời lên án xã hội bất công đã đẩy con người vào cảnh khốn cùng.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Albert Einstein từng nói: “Hãy nhìn sâu vào thiên nhiên, bạn sẽ thấu hiểu mọi thứ rõ ràng hơn.” Đây không chỉ là lời khuyên về cách khám phá thế giới mà còn là bài học sâu sắc về nhận thức và cách sống của con người.
Thiên nhiên là thế giới rộng lớn bao quanh con người: cây cối, sông núi, biển cả, muông thú và mọi quy luật vận động của sự sống. “Nhìn sâu vào thiên nhiên” không chỉ là ngắm nhìn vẻ đẹp bên ngoài mà còn là quan sát, cảm nhận và suy ngẫm về những quy luật của tự nhiên. Khi hiểu thiên nhiên, con người sẽ hiểu thêm về cuộc sống, về bản thân và những giá trị bền vững.
Thiên nhiên là người thầy lớn của nhân loại. Từ xa xưa, con người đã học được nhiều điều nhờ quan sát tự nhiên: chim bay giúp con người nghĩ ra máy bay, dòng nước giúp tạo ra thủy điện, quy luật ngày đêm giúp con người tổ chức cuộc sống khoa học hơn. Không chỉ trong khoa học, thiên nhiên còn dạy con người về sự kiên trì và cân bằng. Một cái cây muốn lớn lên phải trải qua nắng mưa, giông bão; con người cũng cần vượt qua khó khăn để trưởng thành. Dòng sông luôn chảy về phía trước nhắc chúng ta không nên bỏ cuộc trước thử thách.
Thiên nhiên còn giúp tâm hồn con người trở nên bình yên và sâu sắc hơn. Giữa cuộc sống hiện đại đầy áp lực, nhiều người mải mê với công nghệ mà quên dành thời gian hòa mình vào thiên nhiên. Chỉ cần ngắm bình minh, lắng nghe tiếng sóng biển hay bước đi dưới hàng cây xanh, con người sẽ cảm thấy thư thái và hiểu rằng cuộc sống không chỉ là sự cạnh tranh vội vã. Thiên nhiên giúp con người sống chậm lại, biết yêu thương và trân trọng những điều giản dị.
Tuy nhiên, hiện nay con người đang dần xa rời thiên nhiên. Nhiều khu rừng bị tàn phá, sông ngòi bị ô nhiễm, động vật mất nơi sinh sống do lòng tham và sự thiếu ý thức của con người. Chính điều đó đã gây ra biến đổi khí hậu, thiên tai và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác. Khi phá hủy thiên nhiên, con người cũng đang tự hủy hoại cuộc sống của chính mình. Vì thế, câu nói của Einstein càng trở nên có ý nghĩa trong thời đại hôm nay.
Là học sinh, chúng ta cần có ý thức bảo vệ môi trường bằng những hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước, trồng thêm cây xanh và tuyên truyền bảo vệ thiên nhiên. Đồng thời, mỗi người cũng nên dành thời gian quan sát và cảm nhận vẻ đẹp của tự nhiên để học cách sống hài hòa hơn.
Câu nói của Albert Einstein đã khẳng định vai trò to lớn của thiên nhiên đối với nhận thức và đời sống con người. Thiên nhiên không chỉ mang lại sự sống mà còn giúp con người hiểu hơn về thế giới và chính bản thân mình. Biết yêu quý và gìn giữ thiên nhiên cũng chính là cách con người hướng tới một cuộc sống bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 1
Trong đoạn trích, nhân vật Dần hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho số phận đáng thương của trẻ em nông dân nghèo trước Cách mạng. Mới mười hai tuổi, Dần đã phải đi ở cho nhà giàu để phụ giúp gia đình. Em còn quá nhỏ, yếu ớt, “gầy như một cái que”, nhưng vẫn phải làm việc cực nhọc và chịu nhiều tủi cực. Dần nhớ nhà, nhớ mẹ, khóc đòi về nhưng không thể vì hoàn cảnh nghèo đói đã đẩy em vào cuộc sống làm thuê. Qua nhân vật Dần, Nam Cao đã phản ánh hiện thực đau xót của người nông dân nghèo: cái nghèo khiến trẻ con mất đi tuổi thơ, phải sống lam lũ, cơ cực từ sớm. Đồng thời, nhà văn còn cho thấy vẻ đẹp của tình mẫu tử. Mẹ Dần tuy có lúc tỏ ra cứng rắn nhưng thực chất rất yêu thương con, đau lòng khi phải cho con đi ở. Bằng ngòi bút chân thực và giàu cảm xúc, Nam Cao bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc với những con người nghèo khổ trong xã hội cũ.
Câu 2
Albert Einstein từng nói: “Hãy nhìn sâu vào thiên nhiên, bạn sẽ thấu hiểu mọi thứ rõ ràng hơn.” Đây là một lời khuyên sâu sắc, nhắc nhở con người biết gắn bó với thiên nhiên để học hỏi, khám phá và hiểu hơn về cuộc sống.
Thiên nhiên là thế giới rộng lớn bao quanh con người gồm cây cối, sông núi, biển cả, muôn loài và các hiện tượng tự nhiên. “Nhìn sâu vào thiên nhiên” không chỉ là ngắm nhìn vẻ đẹp bên ngoài mà còn là quan sát, cảm nhận và suy ngẫm về những quy luật của tự nhiên. Khi hiểu thiên nhiên, con người sẽ hiểu hơn về chính bản thân, về cuộc sống và cách tồn tại hài hòa với thế giới.
Thiên nhiên là người thầy lớn của con người. Từ xa xưa, con người đã học được nhiều điều từ tự nhiên để phát triển cuộc sống. Nhìn chim bay, con người phát minh ra máy bay; quan sát cá bơi, con người chế tạo tàu ngầm. Những quy luật của tự nhiên cũng giúp khoa học phát triển mạnh mẽ. Không chỉ mang giá trị khoa học, thiên nhiên còn dạy con người nhiều bài học ý nghĩa. Dòng sông luôn chảy về phía trước nhắc chúng ta phải biết vượt qua khó khăn. Cây tre dù mảnh mai nhưng vẫn kiên cường trước bão gió giống như tinh thần bất khuất của con người Việt Nam. Thiên nhiên vì thế trở thành nguồn cảm hứng và bài học lớn cho cuộc sống.
Bên cạnh đó, thiên nhiên còn giúp con người cân bằng tâm hồn. Trong cuộc sống hiện đại đầy áp lực, con người dễ trở nên căng thẳng, mệt mỏi. Những cánh rừng xanh, tiếng sóng biển hay bầu trời yên bình có thể giúp con người thư giãn, tìm lại sự bình yên trong tâm hồn. Khi hòa mình vào thiên nhiên, ta biết yêu cuộc sống hơn, sống chậm lại và trân trọng những điều giản dị.
Tuy nhiên, hiện nay nhiều người đang dần xa rời thiên nhiên. Quá trình đô thị hóa, ô nhiễm môi trường và lối sống phụ thuộc vào công nghệ khiến con người ít quan tâm đến thiên nhiên hơn. Không ít người chặt phá rừng, xả rác bừa bãi, làm ô nhiễm sông hồ và không khí. Những hành động ấy đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán và dịch bệnh. Điều đó cho thấy khi con người không tôn trọng thiên nhiên thì chính con người sẽ phải gánh chịu hậu quả.
Là học sinh, chúng ta cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường bằng những hành động nhỏ như trồng cây xanh, tiết kiệm điện nước, không xả rác bừa bãi và tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ thiên nhiên. Đồng thời, cần dành thời gian quan sát, cảm nhận vẻ đẹp của tự nhiên để thêm yêu cuộc sống và sống có trách nhiệm hơn.
Câu nói của Albert Einstein đã khẳng định vai trò to lớn của thiên nhiên đối với con người. Thiên nhiên không chỉ nuôi dưỡng sự sống mà còn giúp con người hiểu hơn về thế giới và chính mình. Biết yêu quý và sống hài hòa với thiên nhiên cũng chính là cách để con người hướng tới một cuộc sống bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 1
"Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó không miêu tả đời sống, nếu nó không phải là tiếng thét đau khổ hay lời ca tụng hân hoan". Thấm nhuần tinh thần nhân đạo sâu sắc đó, đoạn trích trong truyện ngắn "Một đám cưới" của Nam Cao đã làm nổi bật hoàn cảnh đáng thương, vẻ đẹp hiếu thảo cùng bi kịch tinh thần thầm lặng của nhân vật Dần, thể hiện qua đoạn từ "Dần đi ở... được lợi mỗi năm một vài đồng bạc công đâu?". Biểu hiện rõ ràng của vấn đề nghị luận chính là kiếp sống trâu ngựa tủi nhục của một đứa trẻ nghèo bị tước đoạt tuổi thơ và sự dằn vặt khôn nguôi của tình mẫu tử trong đó nghèo đói. Về nội dung, Nam Cao kiến tạo một tình huống truyện éo le: vì gia cảnh quá túng quẫn, người mẹ buộc phải đứt ruột gửi đứa con gái nhỏ đi ở nhạ cho nhà bà chánh Liễu để đỡ một miệng ăn. Qua đó, chủ đề về số phận khốn cùng của người nông dân trước Cách mạng hiện lên chân thực; Dần là một cô bé có tính cách ngoan ngoãn, chịu thương chịu khó, dù bị đối xử tàn nhẫn, ăn không đủ no, làm việc quá sức đến mức "gầy như một cái que" và khóc đòi về với các em, nhưng cô bé vẫn cố chịu đựng. Đoạn trích chứa đựng giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc khi bóc trần sự thật cay đắng: cái đói đẩy con người vào đường cùng, biến tình yêu thương thành sự hắt hủi cay nghiệt bên ngoài nhưng đầy nước mắt bên trong của người mẹ. Về nghệ thuật, đoạn trích vô cùng xuất sắc nhờ đặt điểm nhìn trần thuật linh hoạt, lúc ở bên ngoài bao quát, lúc di chuyển vào bên trong tâm tư (hạ chi) của hai mẹ con Dần. Ngôn ngữ đối thoại sắc lạnh, tuyệt vọng của người mẹ "về nhà bà chánh mà ở, không về thì đi đâu mặc kệ!" đối lập hoàn toàn với ngôn ngữ độc thoại nội tâm đau đớn, khóc thầm sau đó. Biện pháp tu từ liệt kê các món ăn cứu đói "củ khoai, củ ráy, bụng trẻ con" cùng cấu trúc đối lập giữa mơ ước béo tốt với thực tế "gầy như cái que" tạo nên giọng điệu xót xa, buồn thương da diết. Đánh giá bằng lí luận văn học, nhân vật Dần là một chi tiết đắt giá thể hiện cái tầm của Nam Cao khi ông luôn nhìn thấy ánh sáng thiên lương, tình mẫu tử thiêng liêng ngay trong sự bần cùng hóa. So với nhân vật chị Dậu (Tắt đèn của Ngô Tất Tố) phải bán con trong sự gào khóc, nhân vật người mẹ và bé Dần của Nam Cao lại mang triết lí đau đớn hơn về cái đói kìm kẹp, khiến con người phải đóng kịch tàn nhẫn để đẩy con đi cứu mạng. Tóm lại, đoạn trích và nhân vật Dần đã khẳng định sức sống bất diệt của tác phẩm trong sự nghiệp Nam Cao và nền văn học Việt Nam, để lại cho bản thân em bài học sâu sắc về sự thấu cảm, lòng trân trọng gia đình và ý chí vượt qua nghịch cảnh cuộc sống.
Câu2
"Phúc thay cho người nào có tài nhìn thấy cái đẹp ở những nơi mà người khác không nhìn thấy gì cả". Quả thực, thế giới quanh ta là một kho tàng bí ẩn vô tận, và khả năng thấu suốt cuộc sống thường bắt nguồn từ những điều giản dị nhất. Bàn về hành trình nhận thức của con người, nhà bác học thiên tài Albert Einstein cũng từng đưa ra một lời khuyên sâu sắc: "Hãy nhìn sâu vào thiên nhiên, bạn sẽ thấu hiểu mọi thứ rõ ràng hơn". Lời khẳng định mang tính định hướng này không chỉ là một bài học nhân sinh mộc mạc mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng tối thượng của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Thiên nhiên chính là người thầy vĩ đại, là tấm gương phản chiếu giúp con người tìm lại sự cân bằng, mở rộng thế giới quan và thấu suốt bản chất của cuộc sống trong thời đại hiện đại đầy biến động. Để thấu hiểu trọn vẹn tư tưởng của Albert Einstein, trước hết chúng ta cần làm rõ ý nghĩa của các từ khóa cốt lõi. "Thiên nhiên" là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại xung quanh con người, không do bàn tay con người tạo ra, bao gồm cây cỏ, sông ngòi, muông thú và bầu trời rộng lớn. Hành động "nhìn sâu" không đơn thuần là sự quan sát hời hợt bằng thị giác, mà là quá trình cảm nhận bằng cả tâm hồn, sự suy ngẫm, hòa mình và lắng nghe quy luật chuyển động của tạo hóa. Cụm từ "thấu hiểu mọi thứ rõ ràng hơn" hàm ý về sự thức tỉnh trong nhận thức, giúp con người hiểu được quy luật của vũ trụ, bản chất của sự sống và tìm ra câu trả lời cho những bế tắc của chính bản thân mình. Bằng cách nói ngắn gọn nhưng mang tầm khái quát cao, Einstein muốn rút ra một thông điệp nội dung bản chất: Khi con người biết tách mình ra khỏi những xô bồ, áp lực của đời sống vật chất để giao cảm với tự nhiên, chúng ta sẽ đạt đến một đỉnh cao mới của trí tuệ và sự an yên trong tâm hồn. "Thiên nhiên không bao giờ lừa dối chúng ta; chính chúng ta mới là người tự lừa dối mình." — Jean-Jacques Rousseau Khi con người rèn luyện được thói quen nhìn sâu vào thiên nhiên, họ sẽ nhận lại những giá trị vô cùng tích cực trên nhiều phương diện của cuộc sống. Đối với cá nhân, việc hòa mình vào tự nhiên đóng vai trò như một phương thuốc chữa lành diệu kỳ, giúp xoa dịu những tổn thương tinh thần, giảm bớt căng thẳng và kích thích tư duy sáng tạo bứt phá. Một minh chứng tiêu biểu chính là bản thân nhà bác học Albert Einstein. Mỗi khi gặp bế tắc trong các công trình nghiên cứu vật lý phức tạp, ông thường chọn cách chèo thuyền một mình trên hồ hoặc đi dạo trong những cánh rừng yên tĩnh để tìm kiếm nguồn cảm hứng, từ đó phát minh ra những định luật thay đổi cả nhân loại. Đối với mọi người xung quanh, một cá nhân biết yêu thiên nhiên sẽ luôn có xu hướng sống chan hòa, bao dung và lan tỏa năng lượng tích cực, biết trân trọng sự sống của vạn vật và đồng loại. Chúng ta có thể nhìn thấy điều này qua câu chuyện của nhiếp ảnh gia Nick Ut với bức ảnh "Em bé Napalm" chấn động thế giới; tình yêu sâu sắc với từng nhành cây, ngọn cỏ và con người trên mảnh đất quê hương đã thôi thúc ông ghi lại sự thật khốc liệt, thức tỉnh lương tri của hàng triệu người xung quanh về giá trị của hòa bình. Đối với xã hội, một cộng đồng biết nhìn sâu và thấu hiểu tự nhiên sẽ xây dựng được một lối sống văn minh, phát triển bền vững, biết hài hòa giữa kinh tế và bảo vệ môi trường thay vì tàn phá một cách cực đoan. "Sống hòa hợp với thiên nhiên là đỉnh cao của sự khôn ngoan." — Danh ngôn Vì sao con người cần phải thấu hiểu thiên nhiên để hiểu rõ hơn về cuộc đời? Bởi vì tự nhiên chính là cội nguồn của sự sống, chứa đựng những quy luật bất biến vô cùng khắc nghiệt nhưng cũng rất công bằng. Nhìn vào sự tuần hoàn của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, ta hiểu rằng cuộc đời con người cũng có lúc thăng lúc trầm, có lúc vinh quang nhưng cũng có lúc phải đối diện với cay đắng, từ đó rèn luyện cho mình thái độ sống bình thản trước dông bão. Nhìn vào hình ảnh cỏ cây kiên cường vươn lên từ sỏi đá khô cằn, chúng ta tự rút ra bài học về nghị lực sống, từ bỏ lối sống cam chịu, hèn nhát để không rơi vào bi kịch "sống mòn", tẻ nhạt giống như những kiếp người nghèo khổ trong trang văn của nhà văn Nam Cao. Vai trò của thiên nhiên là cứu rỗi con người khỏi sự ích kỷ, tham vọng mù quáng và sự vô cảm của thế giới công nghệ, giúp ta giữ vững thiên lương, bản ngã tốt đẹp trước những cám dỗ cuộc đời. "Để điều khiển thiên nhiên, trước hết phải tuân theo thiên nhiên." — Francis Bacon Để lời khuyên của Einstein không chỉ là một lý thuyết suông, xã hội cần có những giải pháp thực tế và đồng bộ để con người kết nối lại với tự nhiên. Về cách thực hiện của mỗi cá nhân, người trẻ cần chủ động giảm bớt thời gian sử dụng các thiết bị công nghệ điện tử, tích cực tham gia vào các hoạt động trải nghiệm ngoài trời như cắm trại, trồng cây hoặc đi bộ trong công viên để rèn luyện tư duy quan sát. Đối với gia đình và nhà trường, cần tổ chức các buổi học ngoại khóa, giáo dục bảo vệ môi trường, hướng dẫn học sinh cách lắng nghe tiếng nói của cỏ cây thay vì áp đặt những kiến thức sách vở khô khan. Phương pháp hành động khoa học này nên được áp dụng rộng rãi vì nó là công cụ hỗ trợ bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc cho thế hệ trẻ, biến việc học tập thành một hành trình trải nghiệm thực tế đầy thú vị và nhân văn. Trên thế giới, quốc gia Bhutan đã áp dụng thành công giải pháp này khi đưa việc bảo vệ rừng và hòa hợp với tự nhiên vào chỉ số Hạnh phúc Quốc gia, trở thành đất nước hạnh phúc bậc nhất thế giới. "Sự thờ ơ trước nỗi đau của tự nhiên là bước đầu tiên dẫn đến sự hủy diệt của nhân loại." — Paulo Coelho Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ con người đang sống hoàn toàn tách biệt và thờ ơ với thế giới tự nhiên. Nhiều bạn trẻ bằng lòng giam mình trong bốn bức tường với thế giới ảo của điện thoại, máy tính, dẫn đến sự chai sạn về cảm xúc, lười tư duy và dễ rơi vào trạng thái trầm cảm, lo âu. Ngược lại, có những kẻ lại nhìn thiên nhiên bằng con mắt thực dụng, tham lam, sẵn sàng chặt phá rừng bừa bãi, hủy hoại môi trường sinh thái để trục lợi cá nhân một cách ích kỷ. Những lối sống lỗi thời, lệch lạc và tàn nhẫn này đều đáng bị xã hội lên án, phê phán và loại bỏ tận gốc. Ý thức được tầm quan trọng cốt lõi của vấn đề, bản thân em tự rút ra những bài học sâu sắc cho chính mình. Về nhận thức, em hiểu rằng thiên nhiên không phải là nô lệ để con người khai thác mà là một người bạn đời, một người thầy vĩ đại cần được tôn trọng; thấu hiểu tự nhiên là chìa khóa để hoàn thiện nhân cách. Về hành động, là một học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, em sẽ tích cực tham gia các phong trào trồng cây xanh, hạn chế sử dụng rác thải nhựa, đồng thời luôn giữ cho tâm hồn mình mở rộng để lắng nghe, học hỏi những bài học ứng xử thông thái từ thế giới tự nhiên quanh mình. "Hãy để thiên nhiên làm người thầy của bạn." — William Wordsworth Tóm lại, lời phát biểu của nhà bác học Albert Einstein là một thông điệp vượt thời gian, một hồi chuông cảnh tỉnh sâu sắc về lối sống của con người trong kỷ nguyên số. Thiên nhiên không ở đâu xa mà ở ngay trong từng làn gió mát, từng chiếc lá rơi và ánh nắng mặt trời mỗi buổi sớm mai. Thay vì chọn lối sống đóng kín, mòn mỏi trong những lo toan ích kỷ, thế hệ trẻ hôm nay cần dũng cảm bứt phá ra khỏi vùng an toàn, mở rộng lòng mình để giao cảm với thế giới tự nhiên rộng lớn. Hãy để hành trình nhìn sâu vào thiên nhiên thắp sáng tư duy, định vị giá trị bản thân, để cuộc đời của mỗi chúng ta luôn là một hành trình rực rỡ, ý nghĩa và ngập tràn tình yêu thương nhân văn cao đ...
Câu 1:
Nhân vật Dần trong trích đoạn "Một đám cưới" của Nam Cao là hình ảnh điển hình cho số phận trẻ em nghèo trong xã hội cũ. Mới chưa đầy 12 tuổi, Dần đã phải đi ở cho nhà bà chánh Liễu. Dù còn nhỏ, Dần phải làm việc nặng, chịu đòn roi, mắng chửi, ăn uống kham khổ, gầy gò như "cái que". Dần ngoan ngoãn, chịu đựng, khao khát được về nhà với mẹ em dù biết nhà mình còn nghèo khổ hơn. Qua đó thấy Dần hiền lành, thương mẹ, thương em nhưng bất lực trước hoàn cảnh.
Mẹ Dần thương con nhưng vì nghèo nên đành đẩy con đi ở, đau đớn mà phải giả vờ cứng rắn. Qua nhân vật Dần và mẹ Dần, Nam Cao tố cáo xã hội bất công đã đẩy con người vào cảnh bần cùng, đồng thời thể hiện niềm cảm thương sâu sắc với số phận người nghèo.
Câu 2:
Albert Einstein từng nói: "Hãy nhìn sâu vào thiên nhiên, bạn sẽ thấu hiểu mọi thứ rõ ràng hơn". Câu nói khẳng định giá trị của thiên nhiên trong việc giúp con người nhận thức và hoàn thiện bản thân.
Thiên nhiên là kho tàng tri thức vô tận. Từ quy luật sinh trưởng của cây cỏ, dòng chảy của nước, sự vận động của vũ trụ, con người học được quy luật của cuộc sống: cái gì cũng có quá trình, có chu kì, có nhân quả. Nhìn vào thiên nhiên, ta thấy sự hài hòa, cân bằng. Rừng già không tranh giành, mỗi loài có vị trí riêng. Sông chảy không ngừng nhưng không vội vã. Từ đó con người học được cách sống thuận theo tự nhiên, biết đủ, biết nhẫn nại.
Không chỉ vậy, thiên nhiên còn là liều thuốc chữa lành tâm hồn. Khi mệt mỏi, căng thẳng, chỉ cần đứng giữa rừng xanh, nghe tiếng gió, tiếng chim, con người sẽ thấy lòng lắng lại, sáng rõ hơn. Nhiều nhà khoa học, nghệ sĩ, nhà văn tìm cảm hứng từ thiên nhiên để sáng tạo. Newton thấy quả táo rơi mà phát hiện ra lực hấp dẫn.
Tuy nhiên, ngày nay con người ngày càng xa rời thiên nhiên. Chúng ta sống trong đô thị, ôm điện thoại, máy tính, đánh mất sự kết nối với đất trời. Hậu quả là con người dễ lo âu, mất phương hướng, thiếu cảm xúc.
Vì vậy, mỗi người cần dành thời gian để trở về với thiên nhiên: đi bộ trong công viên, ngắm bình minh, trồng một cái cây. Hãy học cách quan sát, lắng nghe thiên nhiên bằng sự tĩnh tâm. Khi đó, ta không chỉ hiểu thiên nhiên mà còn hiểu chính mình, hiểu quy luật sống, sống chậm lại và sâu sắc hơn.
Tóm lại, thiên nhiên là người thầy vĩ đại. Nhìn sâu vào thiên nhiên, ta sẽ thấy rõ bản chất của vạn vật và của chính mình. Hãy để thiên nhiên soi đường cho tâm hồn và trí tuệ con người.