Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Kể lại câu chuyện cổ tích "Cô bé quàng khăn đỏ"
Ngày xưa, có một cô bé rất ngoan và xinh xắn, mọi người gọi em là Cô bé quàng khăn đỏ vì em luôn đội chiếc khăn đỏ xinh xắn do bà ngoại tặng. Một hôm, mẹ cô bé nhờ em mang giỏ bánh và bình sữa sang cho bà ngoại đang ốm nằm một mình trong rừng.
Trên đường đi, cô bé quàng khăn đỏ gặp một con sói gian ác. Con sói nảy ra kế hoạch bắt bà và cô bé. Nó đi trước đến nhà bà, ăn thịt bà và giả làm bà nằm trên giường đợi cô bé. Khi cô bé đến, cô cảm thấy có gì đó lạ, nhưng chưa kịp phản ứng thì con sói định ăn thịt cô.
May mắn thay, một người thợ săn đi qua nghe tiếng kêu của cô bé, đã chạy đến cứu cô và bà ngoại. Người thợ săn giết con sói hung dữ, cứu cả hai bà cháu an toàn. Từ đó, cô bé quàng khăn đỏ luôn nhớ lời mẹ dặn là không được nói chuyện hay đi lối khác khi qua rừng.
Câu chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ” dạy chúng ta bài học quý giá về sự cảnh giác và vâng lời người lớn để giữ an toàn cho bản thân. Em rất thích câu chuyện này vì nó vừa hấp dẫn vừa có ý nghĩa sâu sắc.
- "Chim ơi, nhà tôi chỉ có cây khế này là tài sản quý giá nhất. Chim ăn hết khế, tôi lấy gì mà sống?"
- "Ăn một quả, trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng."
Vào thời giặc Minh xâm lược nước ta, chúng coi nhân dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược. Bấy giờ ở vùng núi Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần thất bại. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần để giết giặc.
Hồi ấy, ở Thanh Hóa, có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Đến khi kéo lưới lên thấy nằng nặng, nghĩ rằng sẽ kéo được mẻ cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá thì chỉ thấy một thanh sắt. Chàng vứt xuống sông, rồi lại thả lưới ở chỗ khác. Kì lạ thay, liên tiếp ba lần đều vớt được thanh sắt nọ. Thận liền đưa thanh sắt lại mồi lửa thì phát hiện ra đó là một thanh gươm.
Về sau, Thận gia nhập vào nghĩa quân Lam Sơn. Một lần nọ, chủ tướng Lê Lợi cùng tùy tùng đến thăm nhà Thận. Bỗng nhiên thấy phía góc nhà lóe sáng, Lê Lợi tiến đến gần xem là cầm lên xem là vật thì gì thì thấy hai chữ “Thuận Thiên”. Song lại không ai nghĩ đó là lưỡi gươm thần.
Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng rút mỗi người một ngả. Lúc đi ngang qua một khu rừng, Lê Lợi thấy có ánh sáng trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc quý giá. Bỗng nhớ đến lưỡi gươm nhà Lê Thận, ông mang chuôi về tra vào lưỡi gươm thì vừa như in.
Một năm trôi qua, nhờ có gươm thần giúp sức, nghĩa quân của Lê Lợi đánh đến đâu thắng đến đó. Thanh thế ngày một vang xa. Quân Minh được dẹp tan. Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ. Vua cho cưỡi thuyền trên hồ Tả Vọng thì thấy Rùa Vàng nổi lên đòi lại thanh gươm thần:
- Việc lớn đã thành. Xin bệ hạ trả lại gươm báu cho đức Long Quân.
Sau khi nghe Rùa Vàng nói, Lê Lợi bèn đem gươm báu trả lại rồi nói:
- Xin cảm tạ ngài cùng đức Long Quân đã cho mượn gươm báu để đánh tan quân giặc, bảo vệ nước nhà.
Nghe xong, Rùa Vàng gật đầu rồi lặn xuống hồ. Từ đó, người dân đổi tên hồ Tả Vọng thành hồ Gươm hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm
Ngày xưa, có một người con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân thuộc giống rồng. Thần có sức khỏe vô địch, lại nhiều phép lạ. Thần giúp dân trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và ăn ở. Ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nàng đến thăm vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ. Hai người gặp nhau, yêu nhau và trở thành vợ chồng.
Ít lâu sau Âu Cơ mang thai và sinh ra một cái bọc trăn trứng, nở ra trăm người con, người nào cũng đều hoàn hảo, đẹp lạ thường. Lạc Long Quân vốn quen sống ở dưới nước, nên thường xuyên trở về dưới thuỷ cung.
Âu Cơ ở lại nuôi đàn con, tháng ngày chờ đợi Lạc Long Quân trở lại, nhưng nỗi nhớ chồng khiến nàng buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên than thở:
- Sao chàng đành bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?
Lạc Long Quân nói:
- Ta vốn ở miền nước thẳm, nàng thì ở chốn núi cao. Nhiều điều khác nhau, khó mà ở cùng nhau một nơi được lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Khi có việc gì cần giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn, đây là giao ước của vợ chồng, con cái.
Âu Cơ ưng thuận. Trước khi đưa năm mươi con lên núi, nàng nói với chồng:
- Thiếp xin nghe lời chàng. Vợ chồng ta đã sống với nhau thắm thiết, nay phải chia hai, lòng thiếp thật là đau xót.
Lạc Long Quân cũng cố nén nỗi buồn trong buổi chia li, chàng khuyên giải vợ:
- Tuy xa nhau nhưng tình cảm đôi ta không hề phai nhạt, khi nào cần chúng ta lại gặp nhau.
Âu Cơ vẫn quyến luyến, rồi buồn bã nói
- Thiếp rất nhớ chàng và thương các con, biết đến khi nào chúng ta mới gặp nhau.
Lạc Long Quân nắm chặt tay vợ, an ủi:
- Xa nàng và các con lòng ta cũng đau lắm! Âu cũng là mệnh trời, mong nàng hiểu và cảm thông cùng ta.
Âu Cơ và các con nghe theo lời cùng nhau chia tay lên đường.
Lạc Long Quân và các con về nơi biển cả, Âu Cơ đưa các con về đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam ta đều luôn tự hào mình là dòng dõi con Rồng cháu Tiên.
TL:
Không thể thay thế ,bởi vì món quà tình cảm mà chỉ có mẹ mới đem đến được cho trẻ thơ chính là tình yêu của mẹ. Tình yêu ấy thể hiện một cách bình dị mà cảm động qua sự chăm sóc ân cần và lời hát ru của mẹ. Mỗi hình ảnh trong lời hát ru của mẹ đều chứa đựng ý nghĩa sâu xa, gửi gắm những ước mong của me dành cho trẻ thơ.
~HT~
TL :
Quan điểm này hoàn toàn hợp lý nếu so sánh vs ngày nay, công nghệ ngày càng phát triển khiến lời ru của mẹ bị thay thế. Nhưng điều đó ko có nghĩa là lời ru của người mẹ bị phai mờ, vì chỉ có mẹ mới đem đến cho trẻ thơ những tình yêu đằm thắm. Tình yêu ấy thể hiện qua lời ru một cách bình dị mà cảm động . Thông qua sự chăm sóc ân cần và lời hát ru của mẹ, điều này ko thể thay thế
_HT_
C1:văn bản bài học đường đời đầu tiên.Của Tô Hoài
C2:Tả dế mèn
Câu 1.
- Văn bản: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu.
- Tác giả: Tô Hoài.
Câu 2.
- Đoạn văn tả Dế Mèn.
Câu 3.
So sánh:
- "Đôi càng tôi mẫm bóng như những chiếc vuốt."
- "Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy."
Nhân hóa:
- Dế Mèn được miêu tả với các hoạt động, dáng vẻ như con người: "đi đứng oai vệ", "đưa hai chân lên vuốt râu"...
Ẩn dụ:
- "Hai lưỡi liềm máy" dùng để gợi hình ảnh hàm răng khỏe, sắc bén của Dế Mèn.
Hoán dụ:
- Các bộ phận như "đôi càng", "đôi cánh", "râu" được dùng để làm nổi bật vẻ đẹp, sức mạnh của Dế Mèn.
Câu 4.
Qua đoạn văn, em rất yêu thích nhân vật Dế Mèn. Dế Mèn hiện lên với vẻ ngoài khỏe khoắn, cường tráng và đầy sức sống. Đôi càng mẫm bóng, đôi cánh dài cùng dáng đi oai vệ khiến Dế Mèn giống như một chàng hiệp sĩ của đồng cỏ. Những chi tiết miêu tả sinh động của nhà văn Tô Hoài giúp em hình dung rõ nét hình ảnh một chú dế trẻ trung, mạnh mẽ và tự tin.
Tuy nhiên, em cũng nhận ra rằng Dế Mèn đôi lúc còn kiêu căng vì quá tự hào về sức mạnh của mình. Qua nhân vật này, em hiểu rằng mỗi người cần biết rèn luyện bản thân để trở nên khỏe mạnh, giỏi giang nhưng luôn phải khiêm tốn, biết yêu thương và giúp đỡ mọi người. Dế Mèn là một nhân vật rất gần gũi, đáng nhớ và để lại cho em nhiều bài học ý nghĩa.
Đề 1: Tả con đường đi học
Mỗi ngày đến trường, em đều đi trên con đường quen thuộc đã gắn bó với em từ những năm đầu tiểu học. Con đường ấy không chỉ đưa em đến lớp mà còn lưu giữ biết bao kỉ niệm đẹp của tuổi thơ.
Buổi sáng, khi ông mặt trời vừa hé những tia nắng đầu tiên, con đường như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài. Những giọt sương còn đọng trên lá cỏ lấp lánh như những hạt ngọc nhỏ. Hai bên đường là những hàng cây xanh mát dang rộng cánh tay đón gió. Tiếng chim hót líu lo hòa cùng tiếng cười nói của các bạn học sinh làm cho con đường trở nên nhộn nhịp hơn.
Đi dọc theo con đường, em bắt gặp những cánh đồng lúa xanh rì đang đung đưa trong gió. Xa xa là những mái nhà thấp thoáng sau hàng cau thẳng tắp. Những bác nông dân đã ra đồng từ sớm, tiếng máy cày, tiếng gọi nhau í ới tạo nên bức tranh làng quê thanh bình và tràn đầy sức sống.
Chiều tan học, con đường lại khoác lên mình chiếc áo vàng óng của nắng hoàng hôn. Ánh nắng cuối ngày trải dài trên mặt đường như dát một lớp mật ngọt. Em thong thả bước đi, ngắm nhìn cảnh vật thân quen và cảm thấy lòng mình thật vui vẻ.
Con đường đi học đã trở thành người bạn thân thiết của em. Dù mai này có đi xa, em vẫn luôn nhớ về con đường nhỏ thân thương ấy với tất cả tình yêu và niềm tự hào.
Đề 2: Tả con sông quê hương
Quê hương em có một dòng sông hiền hòa chảy quanh làng như dải lụa mềm ôm ấp những cánh đồng xanh mướt. Con sông ấy đã gắn bó với tuổi thơ em và trở thành hình ảnh đẹp nhất trong tâm trí mỗi khi nhớ về quê hương.
Buổi sáng, mặt sông phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ phản chiếu bầu trời trong xanh. Những làn sương mỏng nhẹ nhàng bay là là trên mặt nước tạo nên khung cảnh mờ ảo như trong tranh. Từng đàn cá nhỏ tung tăng bơi lội dưới làn nước trong veo. Hai bên bờ, hàng tre xanh rì rào trong gió như đang kể chuyện về làng quê yên bình.
Khi mặt trời lên cao, dòng sông trở nên lung linh hơn. Những tia nắng vàng nhảy nhót trên mặt nước, tạo thành vô vàn đốm sáng lấp lánh. Các bác ngư dân chèo thuyền thả lưới, tiếng mái chèo khua nước vang lên nhịp nhàng. Dòng sông không chỉ mang phù sa bồi đắp cho ruộng đồng mà còn đem lại nguồn sống cho bao người dân quê em.
Đẹp nhất là lúc hoàng hôn buông xuống. Mặt trời đỏ rực như quả cầu lửa từ từ lặn sau lũy tre làng. Cả dòng sông được nhuộm một màu vàng cam rực rỡ. Những cánh cò trắng chao liệng trên bầu trời rồi khuất dần trong ánh chiều tà. Cảnh vật lúc ấy đẹp đến nao lòng.
Em yêu biết bao dòng sông quê hương. Dòng sông không chỉ là món quà thiên nhiên ban tặng mà còn là nơi lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ trong sáng của em. Dù đi đâu xa, hình ảnh con sông hiền hòa ấy sẽ mãi mãi ở trong trái tim em.
Cho ai cần nhé! Mỏi tay quá....
I. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về nhà thơ Xuân Quỳnh, tác phẩm Chuyện cổ tích về loài người.
- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Chuyện cổ tích về loài người.
II. Thân bài
1. Sự ra đời của loài người
- Sinh ra trước nhất: toàn là trẻ con
- Khung cảnh thuở sơ khai:
- Không dáng cây ngọn cỏ.
- Chưa có mặt trời, toàn là bóng đêm.
- Không có màu sắc khác.
2. Sự ra đời của thiên nhiên
- Mặt trời: giúp trẻ con nhìn rõ.
- Cây, cỏ, hoa: giúp trẻ con nhận rõ màu sắc, kích thước.
- Tiếng chim, làn gió: giúp trẻ con cảm nhận được âm thanh.
- Sông: giúp trẻ con có nước để tắm
- Biển: giúp trẻ con suy nghĩ, cung cấp thực phẩm và là nơi tìm hiểu, khám phá.
- Đám mây: đem đến bóng mát.
- Con đường: giúp trẻ con tập đi.
=> Thiên nhiên không chỉ là nơi sinh sống, mà những sự vật trong thiên nhiên sẽ phục vụ cho cuộc sống của con người.
3. Sự ra đời của gia đình
- Mẹ: mang đến tình yêu thương và lời ru, sự chăm sóc.
- Bà: mang đến những câu chuyện cổ tích, dạy dỗ những giá trị văn hóa tốt đẹp.
- Bố: dạy dỗ những kiến thức, giúp trẻ em hiểu biết.
=> Gia đình là nơi luôn che chở và yêu thương cho con người.
4. Sự ra đời của xã hội
- Chữ viết, bàn ghế, cục phấn, cái bảng, trường học… đều là những đồ dùng học tập của con người.
- Thầy giáo, cô giáo là người dạy dỗ, cung cấp kiến thức.
=> Giáo dục có vai trò quan trọng đối với con người.
III. Kết bài
Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Chuyện cổ tích của loài người.
Trời nóng oi bức đến mười ngày, hôm qua một trận mưa rào vừa ập xuống.
Trời bỗng tối sầm lại, gió thổi ù ù, mây đen kéo đến ùn ùn như ông trời đang mặc áo giáp đen ra trận. Không hiểu từ đâu mối bay ra rợp trời, mối trẻ hay rất cao, cao đến sát mái nhà, ngọn cây. Mối già bay thấp, có con bay là là mặt đất. Mối bay ra rất nhiều tưởng như vơ tay lên là bắt được đến vài con mối. Ngoài vườn, mẹ gà cục cục dẫn đàn con tìm nơi ẩn nấp, những chú gà con như những nắm bông vàng chạy lon ton, thỉnh thoảng lại kêu "chiếp chiếp". Gió ngày càng thổi mạnh, bãi mía trước nhà được cơn gió thổi làm lá mía xào xạc như muôn ngàn thiếu nữ đang múa gươm. Bụi cuốn mù trời, lá khô cuốn theo chiều gió chạm xuống đất nghe xào xạc dồn vào một góc sân như một bàn tay vô hình đã quét lại. Ngoài đầu ngõ, những chú kiến hối hả hành quân về tổ mang theo bao nhiêu là thức ăn dự trữ báo hiệu trước một trận mưa rất to sắp đến. Gió thổi mát ơi là mát. Những cọng cỏ gà rung rinh tai nghe ngóng. Đến cả bụi tre đầu ngõ cũng kẽo kẹt đưa võng, lá tre choẽ xuống như những cô thiếu nữ đang ngổi tần ngần gỡ tóc. Hàng bưởi ven bờ ao đu đưa bế những đứa con đầu tròn trọc lốc.
Bỗng chớp loé sáng rực, cả bầu trời như có một chiếc bút kỳ lạ đã vẽ lên bầu trời một nét vẽ thật rõ sáng rồi vụt tắt, ông sấm được thể ra oai ghé xuống sân cười khanh khách, có lúc phát ra những tiếng đùng đoàng như mìn phá đá. Cây dừa vốn thường ngày đứng im lặng ở góc vườn nay thả sức sải tay bơi như những vận động viên đang bơi lội. Những chị mùng tơi ở hàng rào cạnh tường lâu nay uốn éo giờ được nhảy múa hả hê.
Lộp bộp, lộp bộp, trời đã mưa. Trẻ em trong xóm reo lên. Mưa ù ù như xay lúa, mưa sầm sập giọt ngã giọt bay. Nước sùi bọt trắng xoá cả sân. Đất trời mù trắng nước, mưa chéo mặt sân, mùi nước mưa ngai ngái, ngòn ngọt. Mưa rào rào trên mái tôn. mưa bùng nhùng trên các tàu lá chuối, lá khoai. Nước chảy ồ ồ, xối xả. Nước ngập cả sân. Mấy ông cóc cụ nhảy chồm chồm bì bõm trong nước mưa. Nước chảy đục ngầu ngầu, cuồn cuộn dồn về ao, nước mấp mé vườn nhà. Bỗng lóe lên một ánh chớp, sấm kêu "đùng" một cái làm trẻ con trong xóm hét lên một tiếng rõ to. Cây lá trong vườn hả hê run rẩy.
Mưa ngớt dần rồi lạnh hẳn, mấy con chim chào mào từ gốc cây nào đó bay ra hót râm ran như đón ông Mặt Trời lại mỉm cười, những tia nắng vàng óng ánh sau những vòm lá bưởi. Bầu trời lại trong xanh và cao như một bàn tay vô hình đã gột rửa sạch những đám mây đen. Tiếng bàn chân chạy lép nhép ngoài đường. Trẻ em trong xóm rủ nhau đi bắt cá rô ngược dòng nước.
Trận mưa rào thật là thích đã đem đến cái không khí trong lành, khoan khoái dễ chịu. Cây cối như vụt lớn hẳn lên, sum suê hơn mọi ngày, cái bể nhà em lại đầy ắp nước mưa.
TL:
Hôm qua là một ngày may mắn vì em đã được gặp một cổ tiên mà chỉ có trong truyện cổ tích mới có.
Đó là một buổi tối mưa tầm tã. Bỗng một cụ già tay không đi dầm ngoài mưa có lẽ cụ đi ra ngoài nhưng vì quên mang ô. Thấy vậy em lập tức cầm một chiếc ô chạy ngay ra và đón cụ vào nhà nằm nghỉ. Em lấy chăn đắp lên người cụ, chắc vì mệt mỏi quá nên cụ ngủ đi rất nhanh nhưng em vẫn ngồi canh chừng cụ. Bỗng nhiên xuất hiện một Cô tiên tóc có mái tóc óng ả, bằng giọng nhẹ nhàng nói : " Cháu đã rất ngoan vì đã giúp đỡ bố mẹ nhiều công việc, học tập chăm chỉ và đặc biệt là giúp đỡ một cụ già bị ốm nặng. Ta sẽ cho con một viên ngọc ước. Con hãy ước đi ". Em đã rất bất ngờ nhưng em đã định nói là muốn một thứ đồ chơi rẻ tiền; nhưng rồi em lại suy nghĩ rằng nếu muốn như vậy thì thật phí. Em suy nghĩ một lúc thì nghĩ tới tiền. Em thấy thật tội nghiệp cho cụ nên em đã cầm viên ngọc lên và ước "cháu ước Cô tiên hãy làm cho nhà cháu một túi tiền và kim cương thật nhiều." bỗng đột nhiên Cô tiên xuất hiện rồi phất nhẹ que đũa lên tay em. Rồi sau đó em ngủ thiếp đi.
Sáng ra em tỉnh dậy thấy 1 túi tiền và 1 túi kim cương. Có lẽ Cô tiên đã bạn cho em một điều ước và đã giúp em làm thêm được một việc thiện.
HT
Cuối tuần trước , em được mẹ dẫn đi mua đồ dùng học tập mới. Nhìn món đồ nào em cũng thích mê. Trong những số đồ dùng mua được, em thích nhất chiếc cặp sách.
Chiếc cặp sách đó là mẫu khá phổ biến, em rất thích nó********************************************************************************************************************************************************************************************************************************
Bài thơ *Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ* của Nguyễn Khoa Điềm đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu lắng và xúc động. Qua lời ru ngọt ngào, tha thiết, hình ảnh người mẹ hiện lên vừa gần gũi, giản dị, vừa cao đẹp và giàu ý nghĩa. Đó là người mẹ dân tộc Tà Ôi trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, vừa lao động, vừa nuôi con, vừa góp sức cho cách mạng. Điều khiến em xúc động nhất là hình ảnh em bé “lớn trên lưng mẹ”. Em bé không lớn lên trong vòng tay êm ấm, đủ đầy mà lớn lên giữa núi rừng, bom đạn, trên tấm lưng gầy của mẹ. Lưng mẹ không chỉ là nơi che chở con mà còn là điểm tựa của cả cuộc kháng chiến. Qua đó, em cảm nhận được sự hi sinh thầm lặng nhưng vô cùng lớn lao của người mẹ. Mẹ vừa làm rẫy, giã gạo, tải đạn, vừa ru con bằng những lời ru chan chứa tình yêu thương và niềm hi vọng. Bài thơ còn làm em ấn tượng bởi những ước mơ mà người mẹ gửi gắm trong lời ru. Mẹ không chỉ mong con lớn lên khỏe mạnh, ngoan ngoãn mà còn mong con trở thành người có ích cho bản làng, cho đất nước. Ước mơ của mẹ gắn liền với ước mơ độc lập, tự do của dân tộc. Qua đó, em thấy được tình yêu con hòa quyện với tình yêu nước, tạo nên vẻ đẹp cao cả của người mẹ Việt Nam trong chiến tranh. Giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng như một khúc hát ru thực sự, khiến em vừa đọc vừa cảm thấy ấm áp, nghẹn ngào. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, hình ảnh gần gũi nhưng lại mang ý nghĩa lớn lao, giúp em hiểu rõ hơn về những hi sinh của thế hệ đi trước. Bài thơ không chỉ ca ngợi người mẹ mà còn nhắc nhở em phải biết trân trọng hòa bình, yêu thương mẹ cha và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước. Khép lại bài thơ, trong em đọng lại niềm xúc động, lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng đối với những người mẹ đã hi sinh cả cuộc đời cho con và cho Tổ quốc.