Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về một câu ca dao hoặc tục ngữ của Hải Dương mà em thích.
Giúp mik với ah
Câu 9: So sánh và nêu tác dụng
a.
- Câu (1): “Trong gian phòng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”
- Câu (2): “Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”
👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần trạng ngữ được mở rộng bằng cụm từ “chan hoà ánh sáng”, giúp miêu tả rõ hơn không gian của gian phòng triển lãm.
👉 Tác dụng:
Việc mở rộng thành phần trạng ngữ làm cho không gian bức tranh trở nên sinh động, có sức gợi hình, gợi cảm hơn, đồng thời giúp người đọc cảm nhận được vẻ trang trọng, sáng sủa của phòng triển lãm – nơi bức tranh của thầy được trưng bày.
b.
- Câu (1): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản đẹp.”
- Câu (2): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp.”
👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần vị ngữ được mở rộng nhờ thêm từ “rất”, làm tăng mức độ biểu cảm cho tính từ “đẹp”.
👉 Tác dụng:
Việc mở rộng vị ngữ giúp nhấn mạnh cảm xúc ngưỡng mộ, yêu thích của người viết đối với bức tranh, đồng thời thể hiện rõ hơn tình cảm trân trọng và tự hào dành cho người thầy họa sĩ.
Câu 10: Bài học hoặc thông điệp rút ra
Câu chuyện gửi gắm một bài học sâu sắc về lòng biết ơn và tình yêu thương giữa thầy và trò.
Ta hiểu rằng: đôi khi sự quan tâm, động viên chân thành dù nhỏ bé cũng có thể trở thành niềm an ủi lớn lao cho người khác. Câu chuyện cũng nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng, ghi nhớ công lao của thầy cô, bởi chính họ là những người âm thầm gieo hạt, nuôi dưỡng ước mơ và tâm hồn của học trò.
Câu 9
A,
(1) trạng ngữ"trong gian phòng" đơn thuần nêu không gian
(2) trạng ngữ mở rộng thành "trong gian phòng chan hoà ánh sáng" bổ sung thêm chi tiết ánh sáng
Tác dụng:cụ thể ,sing động hơn
B,
(1) vị ngữ đẹp chỉ mức độ bình thường
(2)vị ngữ được mở rộng bằng từ "rất"-> rất đẹp
Tác dụng:trân trọng, ngưỡng mộ
Câu 10
Em rút ra bài học sâu sắc về lòng biết ơn và lòng trân trọng với thầy cô giáo
Ca dao dân ca là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng chúng ta từ thuở lọt lòng. Dòng sữa tinh thần ấy lan xa theo hương lúa, cánh cò, trầm bổng ngân nga theo nhịp chèo của con thuyền xuôi ngược, âu yếm thiết tha như lời ru của mẹ... như khúc hát tâm tình quê hương đã thấm sâu vào tâm hồn tuổi thơ mỗi người. Em nhớ mãi lời ru của bà của mẹ:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Lời ca dao tuy giản dị mà ý nghĩa thật lớn lao, nó ca ngợi công lao trời biển của cha mẹ và nhắc nhở đạo làm con phải lấy chữ hiếu làm đầu.
Vẫn là thi pháp thường thấy trong ca dao, các tác giả dân gian dùng cách nói ví von để tạo ra hai hình ảnh cụ thể, song hành với nhau: Công cha đi liền với nghĩa mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà cha ông ta mượn hình ảnh núi Thái Sơn và nước trong nguồn vô tận để so sánh với công lao nghĩa mẹ:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Cha mẹ sinh con ra, nuôi con mau lớn thành người. Tấm lòng cha mẹ dành cho con thật vô tận, nó chỉ có thể sánh với núi sông hùng vĩ trường cửu mà thôi. Công cha lớn lao như núi, cha thức khuya dậy sớm làm lụng vất vả lo cho con có cơm ăn áo mặc, học hành, khôn lớn thành người. Người cha như chỗ dựa tinh thần và vật chất cho con, cha nâng niu ôm ấp chăm chút cho con, ai có thể quên công lao trời biển ấy. Chín tháng mang nặng rồi đẻ đau, mẹ chắt chiu từng giọt sữa ngọt ngào nuôi con khôn lớn. Lúc con khỏe mạnh cũng như khi ốm đau lòng mẹ giành cho con: như biển Thái Bình dạt dào. Không có cha mẹ làm sao có chúng ta được: con có cha mẹ, không ai ở lỗ nẻ mà lên, tục ngữ đã dạy ta bài học đó. Câu ca dao đã nâng công lao của cha mẹ lên tầm kỳ vĩ sánh với vũ trụ, đất trời. Những hình ảnh tuy giản dị đơn sơ mà thấm đượm lòng biết ơn vô hạn của con cái với mẹ cha.
Công lao trời biển của cha mẹ sao kể hết bằng lời. Trong những dòng trữ tình hàm súc ấy ẩn chứa một chân lí ngàn đời, chân lí ấy phải được chuyển hoá thành hành động, hành động của lòng biết ơn:
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Ông cha ta dạy kẻ làm con phải: thờ mẹ kính cha phải giữ tròn phận sự của kẻ làm con. Đạo làm con phải làm tròn chữ hiếu. Hiếu ở đây là hiếu thuận, hiếu nghĩa, là cư xử làm sao cho kính trọng, yêu thương. Đó cũng là cách sống, cách thức làm người, lẽ sống của con người. Với cha mẹ phải thương yêu ngoan ngoãn vâng lời, lúc nhỏ thì chăm ngoan học giỏi, lớn lên trở thành người công dân tốt, đứa con hiếu thuận trong gia đình. Phải tuân theo những cách thức ứng xử hợp đạo lý. Hai chữ một lòng thế hiện niềm thuỷ chung, son sắt không thay đổi.
Luật gia đình của chúng ta ngày nay quy định bậc con cái phải có nghĩa vụ kính trọng cha mẹ, săn sóc cha mẹ khi già yếu chính là kế tục truyền thống tốt đẹp muôn đời của dân tộc ta uống nước nhớ nguồn. Những kẻ đi ngược lại đạo lý ấy thì sẽ không bao giờ tốt với ai hết, và dĩ nhiên kẻ ấy không bao giờ trở thành một công dân tốt cho xã hội. Những kẻ ấy nếu sống ở trên đời sẽ là những ung nhọt bệnh hoạn của gia đình, xã hội mà chúng ta thường gọi là bất nhân bất nghĩa.
Chúng ta được cha mẹ sinh ra để làm một con người, hãy sống cho xứng đáng là con người. Trên thực tế không phải ở mọi lúc, mọi nơi những đứa con giữ tròn đạo hiếu. Có biết bao cảnh con khinh rẻ cha mẹ, thậm chí đối xử tệ bạc với những người đã sinh ra và nuôi dưỡng mình. Những cách sống của những kẻ như vậy phải bị xã hội trừng trị. Bài ca dao đã đánh thức những kẻ đã và đang sống thiếu lương tri, đồng thời cũng như luồng ánh sáng chiếu rọi vào trái tim mỗi chúng ta - những đứa con.
Ngày nay chữ hiếu không chỉ dừng ở góc độ gia đình, rộng hơn là hiếu với dân, với nước. Có được như vậy mới nhằm xây dựng một xã hội lành mạnh, đẹp đẽ hơn, mà trước hết phải từ gia đình sống với nhau hiếu thuận có đạo đức.
Bài ca dao trên cũng như phần lớn các bài ca dao khác với nghệ thuận so sánh ví von, lời thơ cân xứng hài hoà, hình ảnh giản dị mà hàm xúc... đã nhằm nói lên được tình cảm gia đình sâu sắc. Tính truyền cảm, nội dung giáo dục mạnh mẽ đã làm cho nó sống mãi với chúng ta bao đời nay.
#Học tốt!!!
Đáp án
- Cảm nghĩa về bài ca dao: “Công cha như núi ngất trời”
* Hai câu đầu: Khẳng định công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái:
- So sánh “công cha” với “núi”, “nghĩa mẹ” với “nước” - vừa cụ thể vừa trừu tượng làm nổi bật công cha nghĩa mẹ dành cho con cái là vô cùng lớn lao không thể đo đếm được.
- Sử dụng phép đối: “Công cha” – “Nghĩa mẹ” ; “Núi ngất trời” – “nước biển Đông” ⇒ Tạo cách nói truyến thống khi ca ngợi công lao cha mẹ trong ca dao
* Hai câu sau: Lời nhắn nhủ ân tình thiết tha về đạo làm con.
- “ Cù lao chín chữ” là thành ngữ Hán Việt -> tượng trưng cho công lao cha mẹ sinh thành, nuôi dưỡng dạy bảo con cái vất vả, khó nhọc nhiều bề.
- Khuyên những người con biết ghi lòng tạc dạ công ơn to lớn của cha mẹ.
Câu 1.
Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ.
Câu 2.
Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:
“Cánh chim bay xuống chiều”
“Buổi chiều thu mướt xanh”
“Nhấp nhô đều sóng lúa”
Câu 3.
Từ láy: chậm rãi
Tác dụng: Gợi tả sự thong thả, yên bình của cảnh vật và nhịp sống ở đồng quê, góp phần tạo nên không khí êm đềm, nhẹ nhàng cho bức tranh chiều thu nơi đồng nội.
Câu 4.
Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.
Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất trong trẻo, dịu dàng và nên thơ với màu sắc nhẹ nhàng, hương thơm của cỏ hoa, hình ảnh sống động của chim, cò, trâu và làn khói bếp – tất cả gợi nên vẻ đẹp thanh bình, gần gũi của làng quê Việt Nam.
Câu 5.
Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)
Tác dụng: Làm cho hình ảnh làn khói bếp trở nên có hồn, như có thể trò chuyện với thiên nhiên. Qua đó thể hiện sự giao hòa giữa con người và vạn vật, tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và nên thơ của làng quê lúc chiều thu.
Câu 6.
Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều cùng bà đi chăn trâu trên cánh đồng quê, ngắm hoàng hôn buông xuống và hít hà mùi thơm của rơm rạ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng: tác giả muốn truyền tải vẻ đẹp bình dị, thanh bình và đầy yêu thương của quê hương, nơi luôn lưu giữ những ký ức trong trẻo và gắn bó với tuổi thơ mỗi người.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có biết bao sự kiện hào hùng gắn với những con người kiên cường. Một trong những sự kiện mà em ấn tượng nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” gắn liền với tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đầu năm 1954, thực dân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc, hòng cắt đứt đường liên lạc của ta và biến nơi đây thành “pháo đài bất khả xâm phạm”. Trước tình thế đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ban đầu, kế hoạch là “đánh nhanh, thắng nhanh”, nhưng khi thấy tình hình chưa thật thuận lợi, Đại tướng đã can đảm ra quyết định chuyển phương châm sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định ấy đã thể hiện tầm nhìn sáng suốt và bản lĩnh vững vàng của vị Tổng tư lệnh.
Suốt 56 ngày đêm, quân và dân ta đã kiên cường chiến đấu. Những chiếc xe kéo pháo qua đèo dốc, những đoàn dân công gùi gạo, gùi đạn vượt núi rừng hiểm trở là hình ảnh không thể nào quên. Ngày 7/5/1954, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries – tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn sụp đổ. Chiến thắng này buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Sự kiện Điện Biên Phủ không chỉ là mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc ta mà còn là niềm tự hào của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Qua chiến thắng này, em càng khâm phục Đại tướng Võ Nguyên Giáp – một vị tướng tài ba, đồng thời là người học trò xuất sắc của Bác Hồ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ để lại cho em bài học quý giá: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nếu có lòng dũng cảm, sự kiên trì và niềm tin vào chính nghĩa, chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi. Em tự nhủ phải cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng với thế hệ cha ông đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Bài làm
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, có nhiều tấm gương thiếu niên dũng cảm đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong số đó, em rất khâm phục anh Kim Đồng, người đội viên đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1929, người dân tộc Nùng, quê ở xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Khi Cách mạng Việt Nam còn hoạt động bí mật, anh được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho cán bộ Việt Minh. Dù tuổi còn nhỏ, Kim Đồng luôn tỏ ra nhanh nhẹn, mưu trí và rất dũng cảm. Anh thường vượt qua những con đường rừng hiểm trở, mang thư, chuyển tin, đưa đón cán bộ cách mạng an toàn.
Một lần, khi đang làm nhiệm vụ, Kim Đồng bất ngờ bị lính Pháp phát hiện. Để bảo vệ đồng đội, anh đã nhanh trí chạy hướng khác, đánh lạc hướng địch. Khi bọn lính nổ súng truy đuổi, anh vẫn kiên cường chạy đến nơi an toàn để báo tin. Nhưng do bị trúng đạn, Kim Đồng đã anh dũng hy sinh khi mới 14 tuổi. Sự hi sinh của anh khiến ai cũng thương tiếc và khâm phục.
Hình ảnh Kim Đồng mãi là biểu tượng đẹp của lòng dũng cảm, trung thành và tinh thần yêu nước. Mỗi lần nghe kể về anh, em cảm thấy vô cùng xúc động và tự hào. Em tự nhủ sẽ noi gương Kim Đồng – luôn chăm học, biết giúp đỡ bạn bè, và sống có trách nhiệm với Tổ quốc.
Câu 1 (0,5 điểm):
Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.
👉 Tác dụng: giúp câu chuyện trở nên chân thật, gần gũi và thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của người kể với nhân vật Ga-ro-nê.
Câu 2 (0,5 điểm):
Hai chi tiết miêu tả ngoại hình của Ga-ro-nê:
- “Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng.”
- “Cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi.”
(hoặc: “Lưng khom khom và đầu rụt ngang vai.” – cũng được chấp nhận)
Câu 3 (1,0 điểm):
Ba chi tiết thể hiện tình cảm của “tôi” đối với Ga-ro-nê:
- “Tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê.”
- “Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu.”
- “Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình.”
Nhận xét:
→ “Tôi” có tình cảm yêu mến, kính phục và trân trọng đối với Ga-ro-nê – một người bạn tốt bụng, mạnh mẽ và cao thượng.
Câu 4 (1,5 điểm):
Vì sao có một số người không có thiện cảm với Ga-ro-nê:
→ Bởi vì Ga-ro-nê luôn chống lại những hành động độc ác của họ, bảo vệ những bạn nhỏ yếu hơn, nên những kẻ xấu trong lớp ghét và ganh tị với cậu.
Cảm nhận về nhân vật:
→ Ga-ro-nê là người dũng cảm, chính trực, nhân hậu và sẵn sàng bảo vệ lẽ phải. Cậu xứng đáng là tấm gương sáng về lòng tốt và tinh thần nghĩa hiệp.
Câu 5 (1,5 điểm):
Bài học rút ra (5–7 dòng):
Qua văn bản, em học được rằng trong tình bạn, chúng ta cần biết yêu thương, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau. Cần cư xử chân thành, dũng cảm đứng về phía điều đúng, không thờ ơ hay đồng lõa với cái xấu. Hãy giống như Ga-ro-nê – luôn sống nhân hậu, sẵn sàng chia sẻ và quan tâm đến người khác. Khi biết nghĩ cho bạn bè, ta không chỉ làm người khác vui mà còn khiến bản thân trở nên tốt đẹp hơn.
Câu1:ngôi kể thứ nhất
Câu2 hai chi tiết miêu tả ngoại hình của Nhân ga _ro_nê là
_cậu ấy lớn nhất lớp đầu to vai rộng
_lưng khom khom và đầu rụt ngang vai
câu3 Hà nêu được 3 trong sồ các chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật tôi với ga _ro_nê sau+người đã cho cậu bé miền Nam cả tem
Ai là vừa ý mình thích đúng nhé
Câu ca dao:
"Những người lải nhải lai nhai
Không ở Vũ Nhai cũng ở Đại Từ.
Những người lử khử, lừ khừ
Chẳng ở Đại Từ cũng ở Võ Nhai."
khiến em cảm thấy vừa hài hước vừa sâu sắc. Câu ca dao không chỉ phản ánh tính cách con người trong đời sống thường nhật của vùng Thái Nguyên, mà còn thể hiện cái nhìn tinh tế, hóm hỉnh của người xưa về thói quen của con người. Những người “lải nhải lai nhai” khiến người khác mệt mỏi, còn những người “lử khử, lừ khừ” lại dễ gây trì trệ trong công việc, nhưng cách diễn đạt vui nhộn khiến ta vừa cười vừa nhận ra bài học cho bản thân. Em thấy câu ca dao này như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng rằng mỗi người nên tự nhìn nhận và rèn luyện tính cách của mình, tránh những thói quen không tốt, đồng thời trân trọng những giá trị văn hóa, sự quan sát tinh tế của ông cha. Qua đó, em càng thêm yêu mến sự dí dỏm và sâu sắc trong văn hóa dân gian Thái Nguyên, đồng thời cũng nhận ra rằng việc học hỏi và tự hoàn thiện bản thân là điều cần thiết trong đời sống hàng ngày
Câu ca dao:
"Những người lải nhải lai nhai
Không ở Vũ Nhai cũng ở Đại Từ.
Những người lử khử, lừ khừ
Chẳng ở Đại Từ cũng ở Võ Nhai."
khiến em cảm thấy vừa hài hước vừa sâu sắc. Câu ca dao không chỉ phản ánh tính cách con người trong đời sống thường nhật của vùng Thái Nguyên, mà còn thể hiện cái nhìn tinh tế, hóm hỉnh của người xưa về thói quen của con người. Những người “lải nhải lai nhai” khiến người khác mệt mỏi, còn những người “lử khử, lừ khừ” lại dễ gây trì trệ trong công việc, nhưng cách diễn đạt vui nhộn khiến ta vừa cười vừa nhận ra bài học cho bản thân. Em thấy câu ca dao này như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng rằng mỗi người nên tự nhìn nhận và rèn luyện tính cách của mình, tránh những thói quen không tốt, đồng thời trân trọng những giá trị văn hóa, sự quan sát tinh tế của ông cha. Qua đó, em càng thêm yêu mến sự dí dỏm và sâu sắc trong văn hóa dân gian Thái Nguyên, đồng thời cũng nhận ra rằng việc học hỏi và tự hoàn thiện bản thân là điều cần thiết trong đời sống hàng ngày
Em yêu thích câu tục ngữ: " Thái Nguyên đất thép, năm nào cũng có giặc ào ào'' vì nó khắc hoạ chân thực về hình ảnh quê hương trong lịch sử kháng chiến hào hùng. Câu nói giản dị nhưng đầy ý nghĩa, gợi lên lòng tự hào về tinh thần kiên cường bất khuất với người dân của tỉnh Thái Nguyên. Khi nghe câu này, em hình dung được không khí chiến đấu sôi sục, sự đoàn kết và ý chí chiến đấu quả cảm của cha ông trong những năm tháng trong thời gian khó khăn
Trong những câu ca dao của Thái Nguyên, em yêu thích nhất câu: "Chè Thái, gái Tuyên". Câu ca dao ngắn gọn nhưng đã nhắc đến đặc sản nổi tiếng của quê hương Thái Nguyên là chè. Đọc câu ca dao, em cảm nhận được niềm tự hào của người dân về vùng đất có những đồi chè xanh mướt, cho ra loại chè thơm ngon, nổi tiếng khắp cả nước. Câu ca dao không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn thể hiện tình yêu quê hương, đất nước. Qua đó, em càng thêm yêu mến Thái Nguyên và mong muốn góp phần giữ gìn, quảng bá những nét đẹp văn hóa, những sản vật quý của quê hương. Em sẽ cố gắng học tập thật tốt để sau này góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.