Cảm hứng thế sự trong văn học trung đại là tiền đề cho sự ra đời của xu hướng văn học nào sau...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

BÀI 1.Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý...
Đọc tiếp

BÀI 1.Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban cho danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.

Câu 1. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn văn trên ?
Câu 2. Mệnh đề Hiền tài là nguyên khí của quốc gia được tác giả triển khai như thế nào trong văn bản?.
Câu 3. Nhà nước ta thời phong kiến đã từng trọng đãi hiền tài như thế nào? Theo tác giả, những điều đó đã là đủ chưa?.
Câu 4. Viết một đoạn văn ngắn khoảng 8-10 câu,nêu suy nghĩ của anh/chị về sứ mệnh của hiền tài đối với đất nước?

BÀI 2.Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

1.Hoàng Đức Lương người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh H­ưng Yên, sau chuyển đến ở làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ năm năm 1478. Ông để lại: Trích diễm thi tập, đề tựa năm 1479, thơ chữ Hán còn lại 25 bài chép trong Trích diễm thi tập, sau này được Lê Quý Đôn đ­ưa vào Toàn Việt thi lục.

2.Tựa là bài văn đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội hoạ, âm nhạc,… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy. Bài tựa có thể do tác giả tự viết hoặc do một ai đó thích thú tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường có phần lạc khoản: ghi rõ họ tên, chức t­ước của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài tựa. Bài tựa cũng thể hiện những quan điểm mang tính thời đại và của chủ quan người viết. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường được kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi mang sắc thái trữ tình.

3.Trong công việc biên soạn cũng như sáng tác, Hoàng Đức Lương bộc lộ một quan niệm thẩm mĩ tiến bộ. Đó là sự chú ý đến tính thẩm mĩ của văn chương và ông đưa ra những lí do mà khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời.Đây là tấm lòng yêu n­ước của ông được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc

1/ Nêu nội dung chính của văn bản?

2/ Xác định phương thức biểu đạt của văn bản?

3/ Xác định phép liên kết chính trong đoạn văn (2) và (3) ?

4/ Câu văn Tấm lòng yêu n­ước của ông được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc gợi nhớ đến câu văn nào của Nguyễn Trãi trong Đại cáo bình Ngô khi nói về văn hiến của dân tộc ?

2
24 tháng 4 2020

K liên quan, nhưng cô ơi cho em hỏi ở đoạn này sử dụng biện pháp tu từ chủ yếu là gì và hiệu quả sử dụng ạ. E cảm ơn cô nhiều ạ.

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những nổi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.

20 tháng 4 2020

Bài 2:

1. Giới thiệu Hoàng Đức Lương và tựa Trích diễm thi tập.

2. Phương thức biểu đạt; thuyết minh

3. Phép lặp, thế.

20 tháng 8 2017

+ quan hệ giữa con người và thiên nhiên:Cảnh Khuya

+quan hệ giữa con người vs quốc gia dân tộc:Con Rồng Cháu Tiên

+ con người việt nam trong quan hệ xã hội:Chốn chốn dứt đao binh

+ con người việt nam và ý thức của bản thân:

20 tháng 8 2017

+Quan hệ giữa con người và thiên nhiên:Cảnh khuya,Rằm tháng giêng;Qua Đèo Ngang;Côn Sơn Ca,...

+Quan hệ giữa con người với quốc gia dân tộc: Bức thư của thủ lĩnh da đỏ;....

+Con người Việt Nam trong quan hệ xã hội: Sau phút chia li;Bánh trôi nước;...(người phụ nữ trong xã hội xưa)

+Con người Việt Nam và ý thức của bản thân: Lòng yêu nước; Lòng yêu nước của nhân dân ta;...

4 tháng 11 2021

GỢI Ý ĐÁP ÁN

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):

Câu 1 (0,5 điểm): Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2 (1,0 điểm): Người mẹ được tác giả miêu tả: đợi con, tóc hóa ngàn lau trắng, lưng nặng thời gian, nghìn ngày trên bến vắng.

Câu 3 (1,5 điểm): Ý nghĩa 2 câu thơ: khắc họa nỗi vất vả, cơ cực trong cuộc đời mẹ bao năm trời bôn ba với gió sương để kiếm kế sinh nhai nuôi sống những người con của mình đồng thời thể hiện tình cảm yêu thương và sự biết ơn, trân trọng trước công lao ấy của những người con.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

a. Mở bài

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tinh thần tự học.

b. Thân bài

* Giải thích

Tự học là khả năng tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức một cách chủ động mà không dựa dẫm vào ai.

* Phân tích

- Tự học giúp chúng ta chủ động trong việc tìm kiếm, tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích và có thể tự rút ra được những bài học cho riêng mình mà không bị phụ thuộc vào bất cứ ai.

- Tự học giúp ta ghi nhớ kiến thức lâu hơn.

- Tự học giúp chúng ta rèn luyện tính kiên trì.

- Tự học giúp mỗi chúng ta trở nên năng động hơn trong chính cuộc sống của mình.

* Chứng minh

Học sinh lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu để minh họa cho luận điểm của mình.

* Phản biện

Có những người lười biếng, không chịu tìm tòi, học hỏi để mở mang tầm hiểu biết. Những người này đáng bị phê phán.

c. Kết bài

Liên hệ bản thân và rút ra bài học.

Câu 2 (5,0 điểm):

a. Mở bài

Giới thiệu câu chuyện bằng lời kể của cá bống.

b. Thân bài

* Hoàn cảnh gặp gỡ Tấm Cám và chứng kiến câu chuyện

- Tôi sống ở một con sông nhỏ, ngày ngày thong thả vui chơi.

- Một hôm tôi vừa tỉnh giấc đã thấy mình nằm trong một thứ gì đó khá chật chội, tối om.

- Lát sau tôi được quay trở về với dòng nước mát nhưng ở một nơi khác có hình tròn và chật chội hơn dòng sông. Tôi sống ở đó nhiều ngày liên tiếp.

- Có cô gái tên là Tấm hằng ngày đến cho tôi ăn, làm bạn với tôi; tôi chứng kiến cuộc sống của cô gái bất hạnh này.

* Diễn biến câu chuyện

- Một hôm, nghe tiếng gọi cho tôi ăn, tôi ngoi mặt nước để ăn. Bỗng một hôm khi nghe thấy tiếng gọi tôi ngoi lên thì lại bị vớt lên.

- Hai người phụ nữ vẻ dữ dằn bắt tôi ăn thịt, xương bị vùi vào đống tro bếp. Tấm cho gà trống nắm thóc rồi nhờ tìm giúp xương tôi, lấy chôn vào bốn chân giường.

- Ít lâu sau, nhà vua mở hội tìm vợ. Tấm bị mẹ con Cám bắt làm việc nhà không cho đi. Cô được Bụt giúp nên có bộ trang phục đẹp đẽ để đi dự hội. Không may làm rơi chiếc giày nhưng chính chiếc giày đó đã giúp nàng trở thành vợ của vua.

- Thế nhưng, trong lần về nhà giỗ cha, Tấm bị dì ghẻ lừa leo lên cây cau rồi bị ngã chết do dì đứng dưới chặt gốc cây. Sau đó bà ta lại đem Cám vào cung thay thế Tấm.

- Tấm không chết mà hóa thành con chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi rồi hóa thành cây thị. Kì lạ là cây chỉ có một quả, được một bà lão qua đường đem về để nơi góc giường.

- Một hôm, nhà vua đi qua quán nước của bà thấy miếng trầu têm cánh phượng, gặng hỏi cuối cùng tìm được Tấm và đưa nàng về cung. Mẹ con Cám về sau cũng bị trừng phạt. Tấm sống hạnh phúc bên nhà vua.

c. Kết bài

Khái quát lại ý nghĩa câu chuyện.

 

 

I. Mở đầuVăn học dân gian là nền tảng của văn học viết Việt Nam, phản ánh đời sống, tâm tư và ước mơ của nhân dân lao động. Nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại đã kế thừa chất liệu dân gian để xây dựng những câu chuyện thấm đẫm tính nhân văn. Chuyện người con gái Nam Xương trong tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một minh chứng điển hình. Tác phẩm vừa mang đậm dấu...
Đọc tiếp

I. Mở đầu

Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết Việt Nam, phản ánh đời sống, tâm tư và ước mơ của nhân dân lao động. Nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại đã kế thừa chất liệu dân gian để xây dựng những câu chuyện thấm đẫm tính nhân văn. Chuyện người con gái Nam Xương trong tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một minh chứng điển hình. Tác phẩm vừa mang đậm dấu ấn của truyền thuyết dân gian vừa chứa đựng tư tưởng nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc.

II. Nội dung nghiên cứu

1. Nguồn gốc dân gian và sự tiếp thu của Nguyễn Dữ

Câu chuyện có cốt lõi từ truyền thuyết dân gian về Vũ Nương – người phụ nữ tiết hạnh, chịu oan khuất vì chồng ghen tuông, sau hóa thân thành bóng trên sông Hoàng Giang.

Nguyễn Dữ tiếp thu và nâng tầm: từ một truyện truyền miệng thành tác phẩm văn xuôi chữ Hán, vừa giữ lại yếu tố kỳ ảo dân gian (thủy cung, Linh Phi) vừa kết hợp bút pháp hiện thực.

2. Vấn đề được đặt ra trong tác phẩm

a) Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Vũ Nương tiêu biểu cho người phụ nữ truyền thống: hiền thục, thủy chung, hiếu nghĩa.

Dù vậy, nàng vẫn bị nghi oan, bị đẩy đến cái chết oan khuất, thể hiện sự bất công và số phận mong manh của người phụ nữ trong xã hội nam quyền.

b) Tư tưởng nhân đạo của tác phẩm

Nguyễn Dữ bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc cho thân phận Vũ Nương.

Ông trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ, đồng thời phê phán xã hội phong kiến bất công, lễ giáo khắt khe đã đẩy họ vào bi kịch.

c) Sự hòa quyện giữa yếu tố hiện thực và kỳ ảo

Hiện thực: chiến tranh, cảnh chồng đi lính, gia đình chia lìa, nỗi cô đơn và ghen tuông.

Kỳ ảo: thủy cung, Linh Phi, sự xuất hiện của Vũ Nương khi đã “hóa thân”.

Qua đó, tác phẩm thể hiện niềm tin dân gian vào công lý ở một thế giới khác, khi công lý ở trần gian không thể thực hiện.

3. Ý nghĩa dân gian – văn học

Tác phẩm vừa là tiếng nói tố cáo hiện thực xã hội, vừa là sự khẳng định giá trị nhân phẩm người phụ nữ. Kế thừa và phát triển chất liệu dân gian, Nguyễn Dữ đã mở rộng sức sống của truyền thuyết trong đời sống văn học viết.

III. Kết luận

Chuyện người con gái Nam Xương không chỉ là một truyện truyền kỳ giàu yếu tố kỳ ảo mà còn là một bản cáo trạng đanh thép đối với chế độ phong kiến, đồng thời là khúc ca ngợi phẩm hạnh và vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ. Nghiên cứu tác phẩm cho thấy văn học viết Việt Nam trung đại đã kế thừa và phát triển từ nền văn học dân gian, qua đó khẳng định vai trò nền tảng và sức sống bền bỉ của văn học dân gian trong dòng chảy văn học dân tộc.

0
1. Mở đầuTrong văn học dân gian và văn học trung đại, hình ảnh người phụ nữ thường gắn với số phận éo le, bất hạnh. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là minh chứng tiêu biểu, phản ánh nỗi oan khuất và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến qua nhân vật Vũ Nương.2. Nội dunga. Hoàn cảnh và số phận của Vũ Nương-Sinh ra trong gia đình nghèo, lấy Trương Sinh –...
Đọc tiếp

1. Mở đầu
Trong văn học dân gian và văn học trung đại, hình ảnh người phụ nữ thường gắn với số phận éo le, bất hạnh. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là minh chứng tiêu biểu, phản ánh nỗi oan khuất và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến qua nhân vật Vũ Nương.
2. Nội dung
a. Hoàn cảnh và số phận của Vũ Nương
-Sinh ra trong gia đình nghèo, lấy Trương Sinh – người chồng hay ghen, thô bạo.
-Khi chồng đi lính, một mình lo toan chăm sóc mẹ chồng già yếu và con nhỏ.
-Vì lời nói ngây thơ của con, bị Trương Sinh nghi oan thất tiết.
-Quá uất ức, Vũ Nương gieo mình xuống sông Hoàng Giang.
b. Phẩm chất của Vũ Nương
-Hiền thục, thủy chung: luôn giữ đạo vợ chồng, mong chồng bình yên trở về.
-Hiếu thảo: chăm sóc mẹ chồng tận tình, lo tang ma chu đáo.
-Yêu thương con: hết lòng nuôi nấng, dỗ dành con nhỏ.
-Trong sạch, giữ phẩm hạnh: dù chịu oan khuất vẫn giữ trọn lòng thủy chung.
c. Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm
-Hiện thực: phản ánh xã hội phong kiến bất công, số phận phụ nữ phụ thuộc vào chồng.
-Nhân đạo: xót thương cho thân phận Vũ Nương, khẳng định phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ, đồng thời ước mơ công lý – bằng chứng là việc Linh Phi cứu giúp, trả lại danh dự cho nàng.
3. Kết luận
-Hình tượng Vũ Nương vừa đẹp đẽ vừa bi kịch. Nàng là đại diện cho người phụ nữ Việt Nam xưa: dịu dàng, thủy chung, hiếu thảo nhưng lại chịu nhiều oan nghiệt. Tác phẩm vừa tố cáo xã hội bất công, vừa ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn phụ nữ, để lại bài học về sự trân trọng và thấu hiểu trong hạnh phúc gia đình.

 

1
29 tháng 9 2025

1. Tên báo cáo nghiên cứu:

Bi kịch tình yêu và bài học mất nước trong truyền thuyết An Dương Vương- Mị Châu- Trọng Thuỷ

2. Lý do:

- Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, tuyền thuyết là một bộ phận quan trọng, phản ánh những sự kiện lịch sự xa xưa qua lăng kính nghệ thuật dân gian. Trong số đó truyện An Dương Vương- Mị Châu- Trọng Thuỷ là một trong những truyền thuyết tiêu biểu và giàu giá trị nhất.

- Câu truyện không chỉ tái hiện công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc thời Âu Lạc mà còn chứa đựng những bài học sâu sắc. Đặc biệt, truyện khắc hoạ một bi kịch kép: bi kịch mất nước và bi kịch tình yêu. Sự nhẹ dạ của Mị Châu, sự lợi dụng rồi hối hận của Trọng Thuỷ, sự chủ quan của An Dương Vương đều trở thành những chi tiết nghệ thuật để nhân dân rút ra thông điệp: cảnh giác trước kẻ thù, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với quốc gia.

- Ngoài ra, tác phẩm còn đặc sắc ở chỗ kết hợp giữa yếu tố lịch sử và yếu tố kì ảo, vừa phản ánh hiện thực vừa gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân. Chính sự hoà quyện này tạo nên sức sống lâu bền cho truyền thuyết trong tâm thức người Việt.

- Chính vì vậy, em chọn nghiên cứu vấn đề " Bi kịch tình yêu và bài học mất nước trong truyền thuyết An Dương Vương - Mị Châu - Trọng Thuỷ" để có thể hiểu sâu hơn giá trị văn hoá, nghệ thuật và ý nghĩa nhân sinh mà tác phẩm đem lại.

3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu

a) Mục đích nghiên cứu:

- Giải thích được vì sao truyền thuyết An Dương Vương - Mị Châu - Trọng Thuỷ vừa mang tính lịch sử vừa mang tính nghệ thuật dân gian.

- Phân tích bi kịch tình yêu của Mị Châu và Trọng Thuỷ như một minh chứng cho sự gắn bó giữa tình cảm cá nhân và vậ mệnh dân tộc.

- Khẳng định giá trị tư tưởng lớn của truyện: đề cao cảnh giác trách nhiệm trong việc giữ nước đồng thòi bộc lộ tấm lòng bao dung của nhân dân đối với những số phận bi kịch.

➞ Qua đó, nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn văn học dân gian mà còn rút ra được những bài học ý nghĩa trong bối cảnh hiện đại.

b) Đối tượng nghiên cứu

- Tác phẩm chính: truyền thuyết An Dương Vương - Mị Châu - Trọng Thuỷ trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và Truyền thuyết Việt Nam.

- Nguồn tham khảo: một số công trình nghiên cứu về văn học dân gian, truyền thuyết lịch sử, cũng như bác bài phân tích, bình giảng về tác phẩm.

- Khía cạnh tập trung: hình tượng nhân vật ( An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thuỷ ), các chi tiết kì ảo ( Rùa vàng, nỏ thần, lông ngỗng, ngọc trai - giếng nước ) và thông điệp lịch sử - nhân sinh mà người dân gửi gắm qua truyện.

c) Phương pháp nghiên cứu

1. Phân tích - tổng hợp:

- Phân tích chi tiết cốt truyện, tính cách nhân vật, yếu tố kì ảo.

- Từ đó tổng hợp thành các luận điểm khái quát về nội dung và nghệ thuật

2. So sánh - đối chiếu:

- So sánh với các truyền thuyết khác về chủ đề mất nước ( vd: Thánh Gióng, Truyện Hai Bà Trưng,...) để thấy nét riêng của bi kịch Mị Châu - Trọng Thuỷ.

3. Lịch sử - văn hoá:

- Đặt truyện trong bối cảnh lịch sử dựng nước và chống giặc ngoại xâm thời Âu Lạc, kết hợp với hoàn cảnh xã hội để lý giải nguyên nhân và ý nghĩa của các chi tiết truyện.

4. Tiếp cận văn hoá dân gian:

- Chú trọng khai thác các biểu tượng dân gian: nỏ thần ( sức mạnh quốc gia ), lông ngỗng ( sự nhẹ dạ ,cả tin), ngọc trai - giếng nước ( sự hoá giải và lòng bao dung ).

- Qua đó lý giải cách nhân dân vừa phán xét vừa cảm thông với số phận nhân vật.


15 tháng 11 2017

Nhờ nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn:

- Tạo hoàn cảnh, tình huống rất khéo, rất tự nhiên: mơ chín, uống rượu, bàn luận về các anh hùng trong thiên hạ.

- Nghệ thuật dẫn dắt câu chuyện giữa hai người.

- Chi tiết giàu kịch tính đưa cuộc đối thoại lên đỉnh điểm.

- Câu kết thật giản dị, ngắn gọn có ý nghĩa



18 tháng 6 2018

a, Các nội dung lớn của văn học Việt Nam trong lịch sử: chủ nghĩa yêu nước, cảm hứng thế sự, chủ nghĩa nhân đạo

- Văn học viết Việt Nam được xây dựng trên nền tảng của văn học và văn hóa dân gian

    + Các tác phẩm như Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Truyện Kiều (Nguyễn Du), thơ Nôm (Hồ Xuân Hương) đều có nhiều yếu tố của tục ngữ, ca dao...

- Văn học viết Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp văn học, văn hóa Trung Hoa. Phần lớn sáng tác thời phong kiến đều được viết bằng chữ Hán, thể loại văn học Hán ( cáo, chiếu, biểu, hịch, phú, ngâm khúc...)

- Các tác phẩm chữ Nôm cũng chịu ảnh hưởng như: Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Truyện Kiều...

- Văn học viết Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây, trực tiếp là văn học Pháp thời kì chuyển từ văn học cổ điển sang hiện đại.

    + Phong trào Thơ mới phá bỏ niêm luật, đưa thơ tự do và các thể thơ phương Tây vào văn học.

    + Các tác giả tiên phong, tiêu biểu: Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô Tất Tố... đều được viết theo phong cách văn học phương Tây.

Thời kì văn học trung đại (từ TK X- XIX)

    + Ngôn từ: dùng chữ Hán, lối diễn đạt Hán ngữ, sử dụng hình ảnh ước lệ tượng trưng, lối văn biền ngẫu, điển tích, điển cố...

    + Thể loại: thơ Đường luật, tiểu thuyết, chương hồi, cáo, hịch...

- Thời kì hiện đại (từ TK XX – nay):

    + Về ngôn ngữ: xóa bỏ lối viết, lối dùng từ câu nệ chữ nghĩa, ít dẫn điển cố, điển tích, không lạm dụn từ Hán- Việt

    + Về thể loại: bỏ dần thơ Đường luật, thay bằng thể thơ tự do, các thể thơ cổ thể được thay thế bằng tiểu thuyết hiện đại, các thể truyện ngắn, kí, phóng sự, tùy bút...

28 tháng 8 2016

+ “Họ đều là những người nông dân nghèo thương con”. Nhưng tình thương con của mỗi người có biểu hiện và kết cục khác nhau: chị Dậu thương con mà không bảo vệ được con, phải bán con lấy tiền nộp sưu cứu chồng; lão Hạc phải tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con; còn ông Hai, khi nghe tin làng theo giặc lại lo cho con vì chúng nó cũng là con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...Rõ ràng, ông đặt tình cảm riêng trong mối quan hệ với làng, với nước; ông hiểu danh dự của mỗi con người – dù còn ít tuổi – cũng gắn với danh dự của làng, gắn với vận mệnh của đất nước.
+ “Họ đều có sức phản kháng, đấu tranh”. Trong hoàn cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám, chị Dậu phản kháng một cách tự phát, để bảo vệ chồng trước sự dã man vô nhân đạo của những kẻ đại diện cho cái gọi là “nhà nước” bấy giờ. Còn ông Hai, ông có ý thức trách nhiệm với làng, có tinh thần kháng chiến rất rõ ràng: ông trực tiếp tham gia các hoạt động kháng chiến ở làng, ông muốn trở về làng để được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…khi đi tản cư ông vẫn lo cho các công việc kháng chiến ở làng.
- Đặc biệt, cần phân tích để thấy những chuyển biến “rất mới” trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Ở ông Hai, “tình yêu làng mang tính truyền thống đã hòa nhập với tình yêu nước trong tinh thần kháng chiến của toàn dân tộc”.
+ Tình yêu làng thể hiện ở việc hay khoe làng của ông. Phân tích để thấy sự thay đổi ở việc khoe làng ấy: trước Cách mạng, ông khoe sự giàu có, hào nhoáng của làng; sau Cách mạng tháng Tám, ông khoe không khí cách mạng ở làng ông…Ông tin vào ý thức cách mạng của người dân làng ông cũng như thắng lợi tất yếu nếu giặc đến làng nên nghe giặc “rút ở Bắc Ninh, về qua làng chợ Dầu…” thì ông hỏi ngay “ta giết được bao nhiều thằng?”.
+ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin đồn làng theo giặc. Từ khi chợt nghe tin đến lúc về nhà, nhìn lũ con; rồi đến những ngày sau…nỗi tủi hổ ám ảnh ông Hai thật nặng nề, mặc cảm tội lỗi ngày một lớn hơn. Tình yêu làng, yêu nước của ông còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông thấy tuyệt vọng vì ở nơi tản cư có tin không đâu chứa người làng Chợ Dầu. Lòng trung thành với cách mạng, với đất nước thật mạnh mẽ, hiểu rõ những điều quý giá mà cách mạng đã mang lại cho mình cũng như trách nhiệm với cách mạng nên ông Hai đã quyết định dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
+ Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ của ông Hai được thể hiện cảm động, chân thành khi ông tâm sự với đứa con út. Và, tinh thần kháng chiến, niềm tự hào về làng Chợ Dầu kháng chiến được thể hiện cụ thể khi ông Hai nghe tin cải chính về làng.
- Phân tích để thấy “nguyên nhân của những đổi thay rất mới đó ở nhân vật ông Hai”. Những đổi thay đó là do tác động của hoàn cảnh lịch sử. Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước là nét rất mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám mà nhà văn Kim Lân đã thể hiện qua nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy có được bởi cách mạng đã mang lại cho người nông dân cuộc sống mới, họ được giác ngộ và cũng có ý thức tự giác vươn lên cho kịp thời đại. Vậy nên, tầm nhìn, suy nghĩ của ông Hai đã được mở rộng, đúng đắn.