Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:
→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.
Câu 3.
- Sự thay đổi điểm nhìn:
Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích. - Tác dụng:
Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.
Câu 4
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:
- Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
- Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
→ Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện. - Câu 5.
Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
• Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).
Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.
Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý:
• Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.
• Tác dụng:
• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.
• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).
• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.
Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?
• Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):
• Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).
• Bộc lộ tính cách nhân vật:
• Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).
• Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.
Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)
• Bài học:
• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.
• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.
• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.
• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.
Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”
Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.
Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.
Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo
- Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
- Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.
Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.
Câu 1
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2
Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:
"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."
Câu 3.
Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.
Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.
Câu 4.
Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:
+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.
+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Cầu 5.
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ:
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc, giàu ý nghĩa. Hoa chanh vốn nhỏ bé, giản dị, không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc nhưng lại tinh khiết, trong sáng và tỏa hương thầm. Đặt trong “vườn chanh”, hoa chanh càng trở nên đồng điệu với không gian quê mùa, dân dã. Hình ảnh ấy chính là biểu tượng cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết, gần gũi của người con gái thôn quê. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm trân trọng đối với những nét đẹp giản dị, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ tha thiết: đừng để lớp son phấn thị thành làm phai nhòa vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Hình ảnh “hoa chanh nở giữa vườn chanh” còn khẳng định quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Bính – đề cao sự chân chất, quê mùa, coi đó là vẻ đẹp bền vững và đáng quý hơn cả. Từ hình ảnh thơ này, ta cảm nhận được nỗi lo lắng của nhà thơ trước nguy cơ mai một bản sắc quê hương khi con người chạy theo lối sống thị thành. Như vậy, chỉ bằng một câu thơ giản dị, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân quê – vừa mộc mạc, vừa tinh khiết, vừa bền chặt trong lòng người đọc.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ:
Trong một bài phát biểu, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhấn mạnh: “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại.” Quả thực, giữa thời đại toàn cầu hóa hôm nay, biến đổi khí hậu không còn là vấn đề xa vời, mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người trên khắp hành tinh.
Trước hết, biến đổi khí hậu là hệ quả tất yếu của hoạt động sản xuất và sinh hoạt thiếu ý thức của con người. Sự gia tăng khí thải nhà kính, nạn chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường,… đã làm Trái Đất nóng lên, thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập. Hậu quả là băng tan, mực nước biển dâng, nhiều vùng đất ven biển đứng trước nguy cơ biến mất. Bên cạnh đó, thiên tai, hạn hán, lũ lụt, bão tố diễn ra khốc liệt hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo, dễ bị tổn thương. Biến đổi khí hậu còn làm suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến nguồn nước, lương thực, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của loài người.
Từ thực trạng ấy, ta càng thấm thía tính đúng đắn trong lời cảnh báo của Obama. Quả thật, trong các thách thức toàn cầu như chiến tranh, dịch bệnh, khủng bố,… biến đổi khí hậu nguy hiểm hơn vì nó diễn ra âm thầm nhưng lâu dài, tác động đến mọi mặt đời sống và không chừa một ai. Đặc biệt, nó đe dọa đến tương lai của thế hệ mai sau, làm lung lay nền tảng phát triển bền vững của nhân loại.
Để đối mặt với thách thức này, cần có sự chung tay của toàn thế giới. Các quốc gia phải tăng cường hợp tác, thực hiện cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng sạch, trồng và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường: hạn chế sử dụng nhựa, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi cả cộng đồng cùng hành động, nhân loại mới có thể vượt qua thách thức khổng lồ này.
Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại, đúng như lời Obama từng khẳng định. Ý kiến ấy không chỉ là lời cảnh báo mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải hành động ngay hôm nay, để bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung duy nhất của loài người.
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ):
Trong khổ thơ cuối của Tương tư, Nguyễn Bính đã mượn hình ảnh “giầu” và “cau” để gửi gắm nỗi niềm tình yêu và khát vọng gắn bó đôi lứa:
“Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
Bao giờ giầu bén duyên cau
Thì ta sẽ cưới nhau về một nhà.”
Giầu và cau vốn là hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa cưới hỏi của người Việt, tượng trưng cho tình duyên vợ chồng gắn bó bền chặt. Nguyễn Bính đã đưa chất liệu dân gian ấy vào thơ, biến chúng thành biểu tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Qua đó, ta thấy được khát vọng tình yêu chân thành, mãnh liệt của chàng trai nông thôn: yêu không chỉ để thương nhớ mà còn mong đến sự kết trái, mong tình yêu được đơm hoa kết quả bằng hạnh phúc hôn nhân. Hình ảnh “giầu – cau” còn cho thấy quan niệm tình yêu của Nguyễn Bính rất mộc mạc, thuần khiết, gắn bó với phong tục và nếp sống thôn quê. Như vậy, bằng hình ảnh dân dã, giàu tính biểu tượng, nhà thơ đã khẳng định sức mạnh, sự bền chặt và thiêng liêng của tình yêu lứa đôi.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (600 chữ):
Trong một phát biểu nổi tiếng, Leonardo DiCaprio từng nhấn mạnh: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó.” Đây là một quan điểm đúng đắn và đầy tính cảnh báo trong bối cảnh môi trường toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Trước hết, Trái Đất là ngôi nhà chung duy nhất của nhân loại. Cho đến nay, dù khoa học vũ trụ đã phát triển, con người vẫn chưa tìm được một hành tinh nào khác có điều kiện sống phù hợp như Trái Đất. Không khí, nguồn nước, đất đai, rừng cây, đại dương – tất cả đều là những yếu tố không thể thay thế cho sự tồn tại của con người và muôn loài. Vì vậy, bảo vệ Trái Đất cũng chính là bảo vệ sự sống của chính chúng ta.
Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là môi trường Trái Đất đang bị tàn phá nặng nề. Ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu, rừng bị chặt phá, băng tan, nước biển dâng… đang đe dọa sự cân bằng sinh thái và kéo theo nhiều hậu quả khôn lường: thiên tai, dịch bệnh, khan hiếm lương thực, suy giảm đa dạng sinh học. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chính con người: khai thác tài nguyên quá mức, lối sống tiêu dùng thiếu ý thức, chạy theo lợi ích kinh tế mà bỏ quên môi trường.
Ý kiến của Leonardo DiCaprio vì thế mang ý nghĩa cảnh tỉnh mạnh mẽ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng không ai có thể thoát khỏi hậu quả nếu hành tinh này bị hủy hoại. Cần phải thay đổi từ nhận thức đến hành động: các quốc gia phải chung tay thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ rừng và đại dương. Ở cấp độ cá nhân, mỗi người cũng có thể góp phần bằng những hành động nhỏ bé nhưng thiết thực: hạn chế sử dụng túi nilon, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, phân loại rác thải, sống thân thiện hơn với tự nhiên.
Tóm lại, Trái Đất là mái nhà duy nhất của nhân loại, không có nơi nào khác để thay thế. Bảo vệ hành tinh này không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người đối với tương lai chung. Ý kiến của Leonardo DiCaprio vừa là lời nhắc nhở vừa là lời kêu gọi hành động, để chúng ta cùng nhau gìn giữ ngôi nhà xanh này cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Câu 1. (2,0 điểm)
Đoạn văn khoảng 200 chữ:
Đọc Những dặm đường xuân của Băng Sơn, em cảm nhận được một bức tranh mùa xuân thật đẹp và giàu sức gợi. Trên những nẻo đường, sắc xuân lan tỏa từ cành đào phai, cành mai vàng đến những gánh hoa, gánh quất rực rỡ nối nhau về phố thị. Mùa xuân hiện ra không chỉ trong thiên nhiên mà còn trong gương mặt con người, trong tiếng rao hàng, trong nhịp sống rộn ràng của phố phường. Ẩn sau đó là tình yêu tha thiết của nhà văn dành cho quê hương, đất nước, cho mùa xuân truyền thống của dân tộc. Bằng những chi tiết giản dị, gần gũi, tác giả đã khắc họa được vẻ đẹp thanh khiết, trong lành và tràn đầy sức sống của mùa xuân Việt Nam. Đọc văn bản, em thấy lòng mình thêm rạo rực, bâng khuâng; cũng cảm nhận rõ hơn hương vị Tết cổ truyền – một nét đẹp văn hóa ngàn đời mà ai đi xa cũng nhớ. Qua đó, em nhận ra cần biết trân trọng những giá trị giản dị, quen thuộc quanh mình, bởi chính chúng làm nên cội nguồn hạnh phúc và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bài văn khoảng 600 chữ:
Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên dấu ấn không thể hòa lẫn trong cộng đồng nhân loại. Với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc đã kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, thể hiện trong tiếng nói, phong tục, lễ hội, trang phục, ẩm thực, kiến trúc và trong cả tâm hồn, tính cách con người. Giữ gìn những nét đẹp ấy là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.
Trước hết, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là giữ lấy cội nguồn, giữ lấy căn tính để không bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập. Trong thời đại toàn cầu hóa, văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ, dễ khiến một bộ phận giới trẻ chạy theo xu hướng hiện đại mà quên mất gốc rễ truyền thống. Nếu không biết trân trọng, gìn giữ, chúng ta có thể đánh mất bản sắc, mất đi điểm tựa tinh thần quan trọng nhất.
Thế hệ trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị ấy. Trách nhiệm ấy thể hiện trước hết ở sự trân trọng, tự hào về những di sản mà cha ông để lại: từ tiếng Việt trong sáng đến những câu ca dao, dân ca; từ tà áo dài thướt tha đến những phong tục ngày Tết. Đồng thời, thế hệ trẻ cũng cần chủ động học hỏi, tìm hiểu để am hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc. Khi đã có tri thức, chúng ta mới có thể truyền bá, giới thiệu và lan tỏa những nét đẹp ấy đến bạn bè quốc tế.
Không chỉ dừng ở ý thức, trách nhiệm còn cần thể hiện bằng hành động thiết thực. Đó có thể là việc tham gia bảo vệ di tích lịch sử, giữ gìn phong tục tốt đẹp, ứng xử văn minh nơi công cộng, hoặc đơn giản là biết nói lời hay, giữ gìn tiếng mẹ đẻ trong sáng. Trong thời đại công nghệ số, trách nhiệm ấy còn là việc sử dụng mạng xã hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới một cách đúng đắn, sáng tạo.
Tất nhiên, giữ gìn bản sắc không có nghĩa là khước từ cái mới. Thế hệ trẻ cần biết dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc, chứ không để nó phai nhạt.
Tóm lại, gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy, chúng ta không chỉ bảo vệ cội nguồn dân tộc mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam giàu bản sắc trong mắt bạn bè thế giới. Và quan trọng hơn, chính chúng ta – những người trẻ – sẽ tìm thấy niềm tự hào, sự tự tin khi bước vào đời bằng đôi cánh của truyền thống và hiện đại.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
- Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
- Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
- Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
- Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
- Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
- Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Câu 1:
Thể thơ: Thơ bảy chữ
Câu 2:
Vần: Vần "ay" (bay - tay).
Kiểu vần: Vần chân, vần liền.
Câu 3:
Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".
• Tác dụng:
• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.
• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.
• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.
Câu 4:
-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.
-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.
Câu 5:
-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....
- Tác dụng:
+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.
+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2. Khi Thường Mạnh đang nướng khoai thì có một ông già bị mù loà cùng một câu bá đi đến.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ so sánh ví "củ khoai"
("Nó") như một món "quà tặng".
- Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Làm hình ảnh củ khoai trở nên sinh động, giàu sức gợi.
+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh niềm vui, sự háo hức của Mạnh trước món quà nhỏ bé nhưng quý giá, qua đó thể hiện vẻ đẹp của những niềm vui giản dị trong cuộc sống.
Câu 4.
- Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:
+ Ban đầu (khi thấy ông lão và cậu bé đi đến): Mạnh lo lắng, căng thẳng, "lén trút ra tiếng thở dài", không dám động cựa vì sợ bị phát hiện và xin mất củ khoai.
+ Khi ông lão xin lửa: Mạnh xấu hồ, bối rối, giống như "bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm".
+ Khi hai ông cháu rời đi: Mạnh cảm thấy day dứt, hối hận và lòng tự trọng đã đượcđánh thức; sự háo hức ban đầu tiêu tan, thay vào đó là cảm giác tội lỗi.
- Mạnh thấy củ khoai là "nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn" vì nó chính là lý do khiến Mạnh có những suy nghĩ ích kỉ, hẹp hòi trước những người nghèo khổ nhưng giàu lòng tự trọng.
Câu 5.
- Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lý giải phù hợp.
- Gợi ý trả lời:
+ Hạnh phúc không đơn thuần đến từ việc sở hữu vật chất hay thoa mãn nhu cầu cá nhân, mà nó nảy nở khi ta biết chiến thắng sự ích kỷ để trao đi yêu thương.
+ Sự sẻ chia giúp con người trở nên tử tế, giàu lòng nhân ái và biết sống vì người khác.
+ Khi sẻ chia, ta không hề mất đi mà ngược lại, tâm hồn được bồi đắp bởi niềm vui
"lâng lâng" của lòng nhân ái.
Câu 1 :
• Ngôi kể: Văn bản được kể theo ngôi thứ ba (người kể tự giấu mình và gọi tên các nhân vật như Mạnh, ông lão, cậu bé,...).
Câu 2 (0,5 điểm)
• Khi Mạnh đang nướng khoai thì có hai ông cháu lão ăn mày ở xóm bên đi đến.
Câu 3 (1,0 điểm)
• Biện pháp tu từ so sánh: "Nó [củ khoai sót] y như quà tặng, một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu."
• Tác dụng:
• Về nghệ thuật: Làm tăng tính hình tượng, sinh động và sức biểu cảm cho lời văn.
• Về nội dung: Nhấn mạnh giá trị đặc biệt và ý nghĩa vô giá của củ khoai sót đối với Mạnh; đồng thời thể hiện niềm vui sướng, háo hức và sự nâng niu, trân trọng tột cùng của cậu bé trước món quà từ thiên nhiên.
Câu 4 (1,0 điểm)
• Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:
• Khi hai ông cháu ăn mày xuất hiện: Mạnh nảy sinh tâm lý ích kỷ, nhỏ nhen và sợ hãi. Cậu "ngồi chết gí, không dám động cựa" vì lo sợ họ phát hiện và xin mất củ khoai duy nhất của mình.
• Khi hai ông cháu rời đi: Khi thấy ông lão chỉ xin lửa hút thuốc chứ không xin khoai, rồi lật đật dắt cháu đi sớm vì sự tự trọng và để tránh làm cậu bối rối, tâm trạng Mạnh lập tức đảo chiều. Cậu cảm thấy vô cùng hổ thẹn, áy náy và day dứt khi nhận ra sự ích kỷ của bản thân trước cái nghèo nhưng giàu lòng tự trọng của hai ông cháu.
• Mạnh cảm thấy củ khoai là "nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn" vì: Củ khoai chính là nguồn cơn khơi dậy tính toán ích kỷ lúc đầu của Mạnh. Việc cậu giữ khư khư củ khoai cho riêng mình đối lập hoàn toàn với sự tự trọng của hai người ăn xin khổ cực. Sự hiện diện của củ khoai lúc này như một lời nhắc nhở, chất vấn lương tâm khiến Mạnh cảm thấy xấu hổ với chính mình.
Câu 5 (1,0 điểm)
Cảm giác "lâng lâng", "ngây ngất" của Mạnh đã đem đến một bài học sâu sắc về mối quan hệ giữa sự sẻ chia và hạnh phúc. Hạnh phúc đích thực không nằm ở việc sở hữu hay giữ khư khư cho riêng mình, mà nảy sinh khi ta biết mở lòng, trao đi và san sẻ với người khác. Khi Mạnh vượt qua lòng ích kỷ để tặng nửa củ khoai cho cậu bé ăn mày, dù bụng vẫn đói nhưng tâm hồn cậu lại được lấp đầy bởi niềm vui sướng vô hạn. Bản chất của sự sẻ chia là một hành trình kỳ diệu: khi ta mang lại hơi ấm và nụ cười cho người khác, chúng ta cũng đồng thời nhận lại sự thanh thản và hạnh phúc trọn vẹn cho chính mình.
Câu 1
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2
Khi Thường Mạnh đang nướng khoai thì có một ông già bị mù loà cùng một câu bé đi đến.
Câu 3
Biện pháp tu từ so sánh: Hình ảnh củ khoai sót được so sánh với “quà tặng” và “một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu”.
Tác dụng:
Làm nổi bật giá trị đặc biệt, quý giá của củ khoai đối với Mạnh; thể hiện niềm vui sướng, háo hức và sự trân trọng tuyệt đối của một đứa trẻ đối với thành quả mình tìm được.Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn, giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với tâm lý hồn nhiên của nhân vật.
Câu 4
-Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:
+ Khi hai ông cháu xuất hiện: Mạnh rơi vào tâm trạng lo lắng, ích kỷ nhỏ nhen của trẻ con, cậu "ngồi chết gí", cố tình giấu giếm vì sợ củ khoai duy nhất của mình bị phát hiện hoặc phải đem chia sẻ.
+ Khi hai ông cháu rời đi: Nhận ra sự tự trọng của ông lão (chỉ xin lửa chứ không xin khoai) và hoàn cảnh tội nghiệp của họ, Mạnh thấy áy náy, ngượng ngùng và hối hận sâu sắc vì sự ích kỷ của mình. Sự nhân hậu trỗi dậy thúc đẩy cậu chạy theo đem món quà trao cho đứa bé.
Câu 5
-Hạnh phúc đích thực không nằm ở những giá trị vật chất mà ta ích kỷ giữ lại cho riêng mình, mà đến từ sự sẻ chia và biết trao đi yêu thương. Khi Mạnh quyết định nhường lại phần khoai cho cậu bé ăn mày, tuy bụng vẫn đói nhưng tâm hồn lại ngập tràn niềm vui lâng lâng. Việc biết mở lòng, đồng cảm và giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh không chỉ mang lại niềm vui cho họ mà còn giúp bản thân gột rửa sự ích kỷ, tìm thấy sự thanh thản và giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống.
Câu 1:
-Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2:
-Khi Thường Mạnh đang nướng khoai thì có một ông già bị mù loà cùng một câu bé đi đến.
Câu 3 :
-Biện pháp tu từ so sánh: Hình ảnh củ khoai sót được so sánh với “quà tặng” và “một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu”.
-Tác dụng:Làm nổi bật giá trị đặc biệt, quý giá của củ khoai đối với Mạnh; thể hiện niềm vui sướng, háo hức và sự trân trọng tuyệt đối của một đứa trẻ đối với thành quả mình tìm được.Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn, giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với tâm lý hồn nhiên của nhân vật.
Câu 4 :
-Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:
+ Khi hai ông cháu xuất hiện: Mạnh rơi vào tâm trạng lo lắng, ích kỷ nhỏ nhen của trẻ con, cậu "ngồi chết gí", cố tình giấu giếm vì sợ củ khoai duy nhất của mình bị phát hiện hoặc phải đem chia sẻ.
+ Khi hai ông cháu rời đi: Nhận ra sự tự trọng của ông lão (chỉ xin lửa chứ không xin khoai) và hoàn cảnh tội nghiệp của họ, Mạnh thấy áy náy, ngượng ngùng và hối hận sâu sắc vì sự ích kỷ của mình. Sự nhân hậu trỗi dậy thúc đẩy cậu chạy theo đem món quà trao cho đứa bé.
Câu 5:
-Hạnh phúc đích thực không nằm ở những giá trị vật chất mà ta ích kỷ giữ lại cho riêng mình, mà đến từ sự sẻ chia và biết trao đi yêu thương. Khi Mạnh quyết định nhường lại phần khoai cho cậu bé ăn mày, tuy bụng vẫn đói nhưng tâm hồn lại ngập tràn niềm vui lâng lâng. Việc biết mở lòng, đồng cảm và giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh không chỉ mang lại niềm vui cho họ mà còn giúp bản thân gột rửa sự ích kỷ, tìm thấy sự thanh thản và giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống.
Câu 1
• Ngôi kể: Văn bản được kể theo ngôi thứ ba (người kể tự giấu mình và gọi tên các nhân vật như Mạnh, ông lão, cậu bé,...).
Câu 2 (0,5 điểm)
• Khi Mạnh đang nướng khoai thì có hai ông cháu lão ăn mày ở xóm bên đi đến.
Câu 3 (1,0 điểm)
• Biện pháp tu từ so sánh: "Nó [củ khoai sót] y như quà tặng, một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu."
• Tác dụng:
• Về nghệ thuật: Làm tăng tính hình tượng, sinh động và sức biểu cảm cho lời văn.
• Về nội dung: Nhấn mạnh giá trị đặc biệt và ý nghĩa vô giá của củ khoai sót đối với Mạnh; đồng thời thể hiện niềm vui sướng, háo hức và sự nâng niu, trân trọng tột cùng của cậu bé trước món quà từ thiên nhiên.
Câu 4 (1,0 điểm)
• Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:
• Khi hai ông cháu ăn mày xuất hiện: Mạnh nảy sinh tâm lý ích kỷ, nhỏ nhen và sợ hãi. Cậu "ngồi chết gí, không dám động cựa" vì lo sợ họ phát hiện và xin mất củ khoai duy nhất của mình.
• Khi hai ông cháu rời đi: Khi thấy ông lão chỉ xin lửa hút thuốc chứ không xin khoai, rồi lật đật dắt cháu đi sớm vì sự tự trọng và để tránh làm cậu bối rối, tâm trạng Mạnh lập tức đảo chiều. Cậu cảm thấy vô cùng hổ thẹn, áy náy và day dứt khi nhận ra sự ích kỷ của bản thân trước cái nghèo nhưng giàu lòng tự trọng của hai ông cháu.
• Mạnh cảm thấy củ khoai là "nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn" vì: Củ khoai chính là nguồn cơn khơi dậy tính toán ích kỷ lúc đầu của Mạnh. Việc cậu giữ khư khư củ khoai cho riêng mình đối lập hoàn toàn với sự tự trọng của hai người ăn xin khổ cực. Sự hiện diện của củ khoai lúc này như một lời nhắc nhở, chất vấn lương tâm khiến Mạnh cảm thấy xấu hổ với chính mình.
Câu 5 (1,0 điểm)
(Đoạn văn ngắn gọn khoảng 5 - 7 dòng)
Cảm giác "lâng lâng", "ngây ngất" của Mạnh đã đem đến một bài học sâu sắc về mối quan hệ giữa sự sẻ chia và hạnh phúc. Hạnh phúc đích thực không nằm ở việc sở hữu hay giữ khư khư cho riêng mình, mà nảy sinh khi ta biết mở lòng, trao đi và san sẻ với người khác. Khi Mạnh vượt qua lòng ích kỷ để tặng nửa củ khoai cho cậu bé ăn mày, dù bụng vẫn đói nhưng tâm hồn cậu lại được lấp đầy bởi niềm vui sướng vô hạn. Bản chất của sự sẻ chia là một hành trình kỳ diệu: khi ta mang lại hơi ấm và nụ cười cho người khác, chúng ta cũng đồng thời nhận lại sự thanh thản và hạnh phúc trọn vẹn cho chính mình.
Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2. Khi Thường Mạnh đang nướng khoai thì có một ông già bị mù lòà cùng một câu bé đi đến.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ so sánh ví "củ khoai" ("Nó") như một món "quà tặng".
- Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Làm hình ảnh củ khoai trở nên sinh động, giàu sức gợi.
+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh niềm vui, sự háo hức của Mạnh trước món quà nhỏ bé nhưng quý giá, qua đó thể hiện vẻ đẹp của những niềm vui giản dị trong cuộc sống.
Câu 4.
- Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:
+ Ban đầu (khi thấy ông lão và cậu bé đi đến):
Mạnh lo lắng, căng thẳng, "lén trút ra tiếng thở dài", không dám động cựa vì sợ bị phát hiện và xin mất củ khoai.
+ Khi ông lão xin lửa: Mạnh xấu hổ, bối rối, giống như "bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm".
+ Khi hai ông cháu rời đi: Mạnh cảm thấy day dứt, hối hận và lòng tự trọng đã được đánh thức; sự háo hức ban đầu tiêu tan, thay vào đó là cảm giác tội lỗi.
- Mạnh thấy củ khoai là "nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn" vì nó chính là lý do khiến Mạnh có những suy nghĩ ích kỉ, hẹp hòi trước những người nghèo khố nhưng giàu lòng tự trọng.
Câu 5
Sự chia sẻ không chỉ giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn mà còn mang lại niềm vui và hạnh phúc cho chính chúng ta. Khi biết sẻ chia, con người sẽ cảm thấy tâm hồn thanh thản, ấm áp và cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn. Đôi khi, chỉ một hành động nhỏ cũng có thể đem lại niềm vui lớn cho người khác. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết yêu thương, quan tâm và giúp đỡ mọi người xung quanh. Bởi hạnh phúc không chỉ đến từ việc nhận được mà còn từ việc biết cho đi.
Câu 1. Văn bản được kế theo ngôi thứ ba.
Câu 2. Khi Thường Mạnh đang nướng khoai thì có một ông già bị mù loà cùng một câu bé đi đến.
Câu 3.
Biện pháp tu từ so sánh ví "củ khoai" ("Nó") như một món "quà tặng".
Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Làm hình ảnh củ khoai trở nên sinh động, giàu sức gợi.
+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh niềm vui, sự háo hức của Mạnh trước món quà nhỏ bé nhưng quý giá, qua đó thế hiện vẻ đẹp của những niêm vui giản dị trong cuộc sống.
Câu 4.
- Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:
+ Ban đầu (khi thấy ông lão và cậu bé đi đến): Mạnh lo lắng, căng thẳng, "lén trút ra tiếng thở dài"', khôngdám động cựa vì sợ bị phát hiện và xin mất củ khoai.
+ Khi ông lão xin lửa: Mạnh xấu hổ, bối rối, giống như"bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm"
+ Khi hai ông cháu rời đi: Mạnh cảm thấy day dứt, hối hận và lòng tự trọng đã được đánh thức; sự háo hức ban đầu tiêu tan, thay vào đó là cảm giác tội lỗi.
- Mạnh thấy củ khoai là "nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn" vì nó chính là lý do khiến Mạnh có những suy nghĩ ích kỉ, hẹp hòi trước những người nghèo khố nhưng giàu lòng tự trọng.
Câu 5.
Hạnh phúc đích thực không đến từ việc vun vén vật chất cho cá nhân, mà nảy sinh từ sự sẻ chia và lòng nhân ái. Khi Mạnh vượt qua sự ích kỷ để nhường củ khoai cho cậu bé nghèo, dù bụng đói nhưng tâm hồn cậu lại "lâng lâng", "ngây ngất". Sự sẻ chia giúp con người chiến thắng sự nhỏ nhen của bản thân để thanh thản tâm hồn. Cho đi chính là nhận lại, đem đến niềm vui cho người khác cũng là tự tạo hạnh phúc bền vững cho chính mình.
Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2. Khi Thường Mạnh đang nướng khoai thì có một ông già bị mù lòà cùng một câu bé đi đến.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ so sánh ví "củ khoai" ("Nó") như một món "quà tặng".
- Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Làm hình ảnh củ khoai trở nên sinh động, giàu sức gợi.
+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh niềm vui, sự háo hức của Mạnh trước món quà nhỏ bé nhưng quý giá, qua đó thể hiện vẻ đẹp của những niềm vui giản dị trong cuộc sống.
Câu 4.
- Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:
+ Ban đầu (khi thấy ông lão và cậu bé đi đến): Mạnh lo lắng, căng thẳng, "lén trút ra tiếng thở dài" không dám động cựa vì sợ bị phát hiện và xin mất củ khoai.
+ Khi ông lão xin lửa: Mạnh xấu hổ, bối rối, giống như "bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm".
+ Khi hai ông cháu rời đi: Mạnh cảm thấy day dứt, hối hận và lòng tự trọng đã được đánh thức; sự háo hức ban đầu tiêu tan, thay vào đó là cảm giác tội lỗi.
- Mạnh thấy củ khoai là "nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn" vì nó chính là lý do khiến Mạnh có những suy nghĩ ích kỉ, hẹp hòi trước những người nghèo khổ nhưng giàu lòng tự trọng.
Câu 5.
- Từ cảm giác "lâng lâng", "ngây ngất" của nhân vật Mạnh dù bụng vẫn đói, em rút ra bài học sâu sắc rằng hạnh phúc đích thực không đến từ sự thỏa mãn vật chất cá nhân, mà sinh ra từ sự sẻ chia và lòng nhân ái. Khi ta biết mở lòng, trao đi sự cảm thông và giúp đỡ những hoàn cảnh khốn khó hơn mình, giá trị tinh thần nhận lại sẽ vô cùng lớn lao. Sự sẻ chia không làm chúng ta nghèo đi, trái lại, nó làm giàu thêm tâm hồn, mang đến niềm vui tự tại và một hạnh phúc trọn vẹn, ấm áp. Đôi khi, việc đem lại nụ cười và sự ấm lòng cho người khác chính là món quà vô giá nhất nuôi dưỡng cuộc sống của chính chúng ta.
2
Câu 1
ngôi thứ 3
Không biết làm
A
câu 1 ngôi kể thứ 3
câu 2 hai ông bà lão ăn mày ở xóm bên-ông già mù và
Câu 1
+Là ngôi kể thứ 3
Câu 2
+Khi thường mạnh đang nướng khoai thì có hai ông cháu người ăn mày đi đến
Câu 3
-Biện pháp tu từ so sánh "củ khoai"
-Tác dụng
-Về mặt hình thức
+Làm hình ảnh củ khoai trở nên sinh động ,giàu sức gợi
-về mặt nội dung
+Nhấn mạnh niềm vui sự háo hức quá mạnh trước món quà nhỏ bé nhưng quý giá qua đó thể hiện vẻ đẹp của những niềm vui giản dị trong cuộc sống
Câu 4
-diễn biến tâm lý của nhân vật mạnh
+Ban đầu ( khi thấy ông lão và cậu bé đi đến ) mạnh lo lắng căng thẳng." lén lút rút ra tiếng thở dài". 08 động cơ vì sợ bị phát hiện và xin mất củ khoai
+Khi ông lão xin lửa: mạnh xấu hổ, bối rối ,giống như "bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm"
+Khi hai ông cháu rời đi: mạnh cảm thấy day dứt, hối hận và lòng tự trọng đã được đánh thức ,sự háo hức ban đầu tiêu tan thay vào đó là cảm giác tội lỗi
-mạnh thấy củ khoai là "nhân chứng cho một việc làm đám hổ thẹn" vì nó chính là lý do khiến mạnh có những suy nghĩ ích kỷ, hẹp hòi trước những người nghèo khổ nhưng giàu lòng tự trọng
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
câu 1 : được kể theo ngôi thứ 3
câu 2 : khi thường mạnh đang nướng khoai thì có hai ông cháu ăn mày
câu 3 : “ nó y như quà tặng , mọi thứ kho báu trời đât ban riêng cho câu”
câu 4: diễn biến tâm lý của mạnh
“ khi hai ông cháu xuất hiện”
“ khi họ bỏ đi “
“mạnh cảm thấy củ khoai như “ nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn”
câu 5 :