Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Hai góc kề bù là 2 góc vừa kề nhau , vừa bù nhau
1.Hình gồm một điểm O và một phần đường thẳng bị chia ra bởi O là một tia gốc O.
vd

theo gT I nàm giua OB mà O nam giua AB suy ra O nam giua A và B
\(\Leftrightarrow\)I nam giua A va B
vay dc chưa
1)tia là hình gồm điểm o và 1 phần đường thẳng bị chia ra bởi điểm o
2)a) vì AO+OI=AI=>O nằm giữa A và I
b)vì AO+OB=AB=>I nằm giữa A và B
LÀM ƠN CHO XIN $-$
Đoạn thẳng là đường thẳng giới hạn ở hai đầu
Tia là đường thẳng bị giới hạn ở một đầu gọi là tia
Ví dụ: tập hợp con và tập hợp mẹ là tập hợp giao nhau
**** nha
Đoạn thẳng là đường thẳng được giới hạn ở 2 điểm . VD
A B
Tia là một đường thẳng chỉ được giới hạn ở một điểm . VD :
A x
Đường thẳng là j ko biết , nhưng nếu như hình a thì ta bỏ 2 điểm A và B thì ta có một đường thẳng
Phép hợp : Cho A và B là các tập hợp, khi đó hợp của A và B là tập gồm các phần tử A và các phần tử của B, và không chứa phần tử nào khác. Hợp của A và B được viết là "A ∪ B".
Phép giao :
Cho A và B là hai tập hợp. Giao của A và B là tập gồm những phần tử thuộc cả A và B, ngoài ra không có phần tử nào khác. Giao củaA và B được viết là "A ∩ B".
Hai tập hợp không giao nhau nghĩa là hai tập hợp có giao là tập hợp rỗng, được gọi là hai tập hợp rời nhau.
Đối với phép cộng :
tính chất giao hoán : a + b = b + a
tính chất kết hợp : (a + b) +c = a + (b + c)
Đối với phép nhân :
tính chất giao hoán : a . b = b . a
tính chất kết hợp : (a . b) . c = a . (b . c)
Tia là hình gồm điểm O và 1 phần đường thẳng bị chia ra bởi điểm O, gọi là tia gốc O
Hình: O x y
trong hình có 2 tia Ox và Oy
Tia gốc O là hình gồm gốc O và một nửa đường thẳng bị chia bởi điểm O
O X Y Hình
Trong hình có 2 tia đối nhau Ox và Oy
vd: khi ta mua hàng và mua nợ thì số tiền nợ được xem như là số nguyên âm. Số nguyên âm đó là số tiền chúng ta cần trả và cứ trả đến lúc nó bằng 0.
Để hiểu được trọng âm của một từ, trước hết người học phải hiểu được thế nào là âm tiết. Mỗi từ đều được cấu tạo từ các âm tiết. Âm tiết là một đơn vị phát âm, gồm có một âm nguyên âm (/ʌ/, /æ/, /ɑː/, /ɔɪ/, /ʊə/...)và các phụ âm (p, k, t, m, n...) bao quanh hoặc không có phụ âm bao quanh. Từ có thể có một, hai, ba hoặc nhiều hơn ba âm tiết.
Ví dụ:
Fun /fʌn/
Fast /fæst/
Swim /swɪm/
Whisker /ˈwɪskər/
Important /ɪmˈpɔːrtnt/
Tarantula təˈræntʃələ
International /ˌɪntərˈnæʃnəl/
Tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm tiết, những từ có hai âm tiết trở lên luôn có một âm tiết phát âm khác biệt hẳn so với những âm tiết còn lại về độ dài, độ lớn và độ cao. Âm tiết nào được phát âm to hơn, giọng cao hơn và kéo dài hơn các âm khác trọng cùng một từ thì ta nói âm tiết đó đươc nhấn trọng âm. Hay nói cách khác, trọng âm rơi vào âm tiết đó.
Khi nhìn vào phiên âm của một từ, thì trọng âm của từ đó được ký hiêu bằng dấu (‘) ở phía trước, bên trên âm tiết đó.
Ví dụ: happy / ˈhæpi/ trọng âm rơi vào âm tiết thứ nhất
clever /ˈklevər/ trọng âm rơi vào âm tiết thứ nhất
arrange /əˈreɪndʒ/ trọng âm rơi vào âm tiết thứ hai
engineer /ˌendʒɪˈnɪr/ có hai trọng âm: trọng âm chính rơi vào âm tiết thứ ba /nir/ và trọng âm phụ rơi vào âm tiết thứ nhất /en/
Japanese /ˌdʒæpəˈniːz/ trọng âm chính rơi vào âm tiết thứ ba /ˈniːz/ và trọng âm phụ rơi vào âm tiết thứ nhất /dʒæ/
trong 1 từ có nhiều âm tiết, thì cái âm được đọc nhấn mạnh hơn những âm còn lại gọi là trọng âm
Điểm nằm bên trong góc có nghĩa là điểm đó nằm giữa hai cạnh của góc đó và điểm đó không thuộc hai cạnh của góc đó. Để mình vẽ ví dụ cho bạn dễ hiểu.
Vd: O A x y B C D E
Các điểm E, B, C không nằm bên trong góc
Hai điểm A và D là nằm bên trong góc.
Là quan hệ giữa thứ tự bộ phận trên P (E), kí hiệu ⊂, ⊃, ⊆, ⊇. Khi viết A ⊂ B tức là A bao hàm trong B, A là tập hợp con của B, hoặc gọi là B bao hàm A.
Vì 9 và 6 chia hết cho 3, nên các số chia hết cho 9, và 6 cũng sẽ chia hết cho 3. Nhưng số chia hết cho 3 không chắc chắn đã chia hết cho 6 và 9.
Vậy nhé. Chúc bạn thành công!!
Là quan hệ giữa thứ tự bộ phận trên P (E), kí hiệu ⊂, ⊃, ⊆, ⊇. Khi viết A ⊂ B tức là A bao hàm trong B, A là tập hợp con của B, hoặc gọi là B bao hàm A.
VD: cho tập hợp A là các số TN chia hết cho 3 < 50.B là các sô TN chia hết cho 6 < 50.C là tập hợp các số TN chia hết cho 9 < 50
Viết các bao hàm thức có thể được giữa các tập hợp
Trong toán học, khái niệm hàm số (hay hàm) được hiểu tương tự như khái niệm ánh xạ. Thực chất hàm số chỉ là trường hợp đặc biệt của ánh xạ. Nếu như ánh xạ được định nghĩa là một quy tắc tương ứng áp dụng lên hai tập hợp bất kỳ (còn được gọi là tập nguồn và tập đích), mà trong đó mỗi phần tử của tập hợp này (tập hợp nguồn) tương ứng với một và chỉ một phần tử thuộc tập hợp kia (tập hợp đích), thì ta hoàn toàn có thể coi hàm số là một trường hợp đặc biệt của ánh xạ, khi tập nguồn và tập đích đều là tập hợp số.
Ví dụ một hàm số f xác định trên tập hợp số thực R bằng biểu thức: y = x2 - 5 sẽ cho tương ứng mỗi số thực x với một số thực y duy nhất nhận giá trị là x2 - 5, như vậy 3 sẽ tương ứng với 4. Khi hàm f được xác định, ta có thể viết f(3) = 4.
Đôi khi chữ hàm được dùng như cách gọi tắt thay cho hàm số. Tuy nhiên trong các trường hợp sử dụng khác, hàm mang ý nghĩa tổng quát là ánh xạ, như trong lý thuyết hàm. Các hàm hay ánh xạ tổng quát có thể là liên hệ giữa các tập hợp không phải là tập số. Ví dụ có thể định nghĩa một hàm là quy tắc cho tương ứng mỗi hãng xe với tên quốc gia xuất xứ của nó, chẳng hạn có thể viết Xuất_xứ(Honda) = Nhật.
Kí hiệu hàm số bắt nguồn từ tiếng Anh của từ function, có nghĩa là phụ thuộc, chẳng hạn nghĩa là đại lượng y phụ thuộc vào x một lượng là căn bậc 2 của x, khi đó ta kí hiệu {\displaystyle f(x)={\sqrt {x}}}
.