(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

ĐẤT NƯỚC
(Trích)

Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha!
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về!

(Trích Đất nước, Nguyễn Đình Thi, Thơ Việt Nam 1945 − 1960, NXB Văn học, 1960)

* Chú thích:

Bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian từ 1948 đến 1955. Đây là giai đoạn đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Pháp một giai đoạn mà đất nước ta trải qua những khó khăn, gian khổ nhưng cũng đầy hào hùng.

Đoạn thơ này thuộc phần đầu của bài thơ Đất nước, sau đoạn hồi tưởng về mùa thu Hà Nội. Đây là đoạn thơ đánh dấu bước chuyển từ cảm xúc hoài niệm sang cảm xúc tự hào về mùa thu mới của dân tộc.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra những đại từ được tác giả sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Chỉ ra những hình ảnh về đất nước được tác giả khắc hoạ trong văn bản. Nhận xét về ý nghĩa của hình ảnh ấy trong việc thể hiện nội dung của văn bản.

Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong bài thơ.

Câu 5. Văn bản gợi liên tưởng đến những thế hệ đã hi sinh để bảo vệ đất nước: Những buổi ngày xưa vọng nói về!. Từ liên tưởng ấy, em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc?

19

Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2.
Những đại từ được tác giả sử dụng trong văn bản là: “tôi”, “chúng ta”.


Câu 3.
Những hình ảnh về đất nước được khắc họa trong văn bản gồm: núi đồi, rừng tre, trời thu, trời xanh, núi rừng, cánh đồng thơm ngát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa.
→ Những hình ảnh ấy vừa cụ thể, gần gũi vừa giàu sức gợi, thể hiện vẻ đẹp tươi sáng, trù phú của đất nước trong mùa thu mới, qua đó bộc lộ niềm tự hào, tình yêu tha thiết của tác giả đối với Tổ quốc.


Câu 4.
Biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong các câu thơ: “Trời xanh đây là của chúng ta / Núi rừng đây là của chúng ta”.
→ Biện pháp này có tác dụng nhấn mạnh ý thức làm chủ đất nước của nhân dân, đồng thời bộc lộ niềm vui, niềm tự hào sâu sắc trước nền độc lập, tự do của dân tộc.


Câu 5.
Câu thơ “Những buổi ngày xưa vọng nói về!” gợi nhắc đến những thế hệ cha ông đã hi sinh xương máu để bảo vệ đất nước. Từ đó, em nhận thức rằng thế hệ trẻ hôm nay cần sống có trách nhiệm với Tổ quốc: trân trọng lịch sử, biết ơn những hi sinh của cha ông, không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, sống có lý tưởng và sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng. Chỉ khi làm tốt vai trò của mình, thế hệ trẻ mới có thể viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc trong thời đại mới.

10 tháng 2

Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Những đại từ được tác giả sử dụng trong văn bản là: tôi, chúng ta.

Câu 3.
Những hình ảnh về đất nước được khắc họa trong văn bản gồm: trời thu, núi đồi, rừng tre, trời xanh, núi rừng, cánh đồng thơm ngát, ngả đường bát ngát, dòng sông đỏ nặng phù sa.
→ Các hình ảnh ấy mang vẻ đẹp rộng lớn, tươi sáng, giàu sức sống, thể hiện một đất nước vừa gần gũi, bình dị vừa trù phú, hùng vĩ; qua đó bộc lộ niềm tự hào, tình yêu tha thiết của tác giả đối với Tổ quốc.

Câu 4.
Biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng nổi bật trong câu thơ: “Trời xanh đây là của chúng ta / Núi rừng đây là của chúng ta”.
→ Điệp ngữ “của chúng ta” nhấn mạnh ý thức làm chủ đất nước, khẳng định chủ quyền dân tộc và bộc lộ niềm tự hào, niềm vui lớn lao của nhân dân trong mùa thu độc lập.

Câu 5.
Câu thơ gợi nhắc đến những thế hệ cha ông đã hi sinh vì đất nước khiến em nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay. Đó là phải sống có lý tưởng, biết trân trọng hòa bình, không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, ý thức công dân và sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng. Chỉ khi sống có trách nhiệm với bản thân và đất nước, thế hệ trẻ mới có thể viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc.

10 tháng 2

Câu 1: Thể thơ: Tự do (số chữ trong các dòng không cố định, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc).

Câu 2: Các đại từ được sử dụng: Tôi, chúng ta.

Câu 3: Hình ảnh đất nước và ý nghĩa

- Những hình ảnh về đất nước: Rừng tre phấp phới, trời thu trong biếc, núi rừng, cánh đồng thơm ngát, ngả đường bát ngát, dòng sông đỏ nặng phù sa.

- Nhận xét ý nghĩa:

+ Tạo nên một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, rộng lớn, trù phú và tràn đầy sức sống.

+ Thể hiện niềm tự hào, kiêu hãnh về chủ quyền lãnh thổ và vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc sau những ngày dài khói lửa.

Câu 4: Biện pháp tu từ

Em có thể chọn phân tích một trong hai biện pháp tiêu biểu sau:

- Biện pháp Điệp ngữ: "Đây là của chúng ta" (lặp lại 2 lần) kết hợp với điệp từ "Những".

+ Tác dụng: Nhấn mạnh ý thức chủ quyền, khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ đất nước của nhân dân. Đồng thời tạo nhịp điệu dồn dập, hào hứng, thể hiện niềm vui sướng vô biên của người chiến thắng.

- Biện pháp Nhân hóa: "Trời thu thay áo mới", "Trong biếc nói cười thiết tha".

+ Tác dụng: Khiến thiên nhiên trở nên có tâm hồn, sinh động như con người. Nó phản chiếu niềm vui reo ca, sự thay đổi kỳ diệu của đất nước trong mùa thu cách mạng.

Câu 5: Suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ

Hình ảnh "Những buổi ngày xưa vọng nói về" gợi nhắc về truyền thống yêu nước và sự hy sinh thầm lặng của cha ông. Từ đó, thế hệ trẻ hôm nay cần có trách nhiệm:

+ Ghi nhớ và tri ân: Luôn trân trọng lịch sử, biết ơn những thế hệ đi trước đã đánh đổi xương máu cho nền độc lập.

+ Học tập và rèn luyện: Nỗ lực trau dồi tri thức, kỹ năng để xây dựng đất nước giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

+ Bảo vệ chủ quyền: Sẵn sàng cống hiến và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, văn hóa dân tộc trong thời đại hội nhập.

+ Sống có lý tưởng: Tiếp nối tinh thần "quật khởi" của cha ông bằng những hành động thiết thực, sáng tạo trong lao động và đời sống.

16 tháng 3

Đâđqoiâkkkâjâjâjiwuwhebwbbhwhhwywywyyâywyyrfgiihiygnjjhgxxbnnkooouơưwwddxccvvvhehhdhehrhehejejejehehhrhrhrhffhhfehheheôjhehehgeôêêtăyâywyeyegegehehehehhehehehdvheiygjêieygitfgkugvhjjrjrjjrjrjtrvrnkijjjjjbbbbbjjhvvjjhjjhcv vc vjv

17 tháng 3

3568685

Câu 1. Thể thơ: Tự do. ​Câu 2. Các đại từ được sử dụng: Tôi, chúng ta. ​Câu 3. Hình ảnh về đất nước và ý nghĩa: ​Các hình ảnh: Trời xanh, núi rừng, những cánh đồng thơm ngát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa. ​Ý nghĩa: Khắc họa một không gian đất nước bao la, tươi đẹp, giàu sức sống và trù phú. Qua đó thể hiện niềm tự hào, ý thức làm chủ đất nước của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến. ​Câu 4. Phân tích một biện pháp tu từ: ​Biện pháp: Liệt kê kết hợp với điệp từ "đây là của chúng ta". ​Tác dụng: Nhấn mạnh sự giàu đẹp của quê hương và khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ, niềm tự hào kiêu hãnh của con người đối với lãnh thổ dân tộc sau những năm tháng đấu tranh gian khổ. ​Câu 5. Trách nhiệm của thế hệ trẻ: Từ lời nhắc nhở về sự hi sinh của cha ông trong câu thơ, thế hệ trẻ hôm nay cần: ​Trân trọng và biết ơn thành quả độc lập, tự do mà các thế hệ đi trước đã đánh đổi bằng xương máu. ​Nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức để góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh. ​Sẵn sàng bảo vệ chủ quyền và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc để viết tiếp những trang sử hào hùng trong thời đại mới.

20 tháng 3

Câu 1: Bài thơ thuộc thể loại thơ tự do

Câu 2 : Hai đại từ là " tôi" và " ta"

Câu 1

Thơ tự do

Câu 2 chỉ ra những đại từ đc tác giả SD là tôi, chúng tôi


22 tháng 3

Câu 1 : Thơ tự do

Câu 2 : Tôi,chúng ta

Câu 3

24 tháng 3

Bài thơ thuộc thể thơ: tự do

25 tháng 3

Câu 1 thơ tự do

Câu 1 thể thơ tự do

Câu 2 các đại từ sở Hữu tôi, chúng ta

Câu 3

Câu 1 thể thơ tự do /câu 2 tôi ,chúng ta

Câu 1 thể thơ tự do

Câu 2 các đại từ được sử dụng trong văn bản là tôi chúng ta

Câu 3

hình ảnh về đất nước được tác giả khắc họa là rừng tre phất phới trời thu thay áo mới trời xanh núi rừng cánh Đồng thơm ngát ngả đường bát ngát dòng sông đỏ nặng phù sa

Nhận xét những hình ảnh này gợi lên một bức tranh thiên nhiên trong sáng tươi đẹp tràn đầy sức sống những hình ảnh nay góp phần thể hiện niềm vui sướng tự hào của nhân vật trữ tình trước sự đổi mới phát triển của đất nước sau này

Câu 4 biện pháp tu từ điệp ngữ thể hiện ở chữ của chúng ta biện pháp tu từ này có tác dụng là góp phần làm tăng nhạc tính cho bài thơ nhấn mạnh sự khẳng định ý thức về chủ quyền của đất nước gọi nên sự gắn bó thân thuộc giữa con người và đất nước khơi dậy lòng tự hào dân tộc

Câu 5 trân trọng giữ gìn phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc có ý thức bảo vệ chủ quyền của dân tộc không ngừng học hỏi và rèn luyện bản thân để xây dựng tương lai và cống hiến cho đất nước Tích cực tham gia các hoạt động xã hội bảo vệ môi trường tình nguyện giúp đỡ đồng bào khi xảy ra thiên tai



4 tháng 5

​Câu 1: Thể thơ tự do. ​Câu 2: Các đại từ được sử dụng là: "tôi", "chúng ta". ​Câu 3: Các hình ảnh về đất nước: rừng tre phấp phới, trời thu thay áo mới, trời xanh, núi rừng, cánh đồng thơm ngát, ngả đường bát ngát, dòng sông đỏ nặng phù sa. Những hình ảnh này thể hiện vẻ đẹp tươi đẹp, giàu sức sống và niềm tự hào về một đất nước tự do, làm chủ. ​Câu 4: Biện pháp tu từ điệp ngữ (của chúng ta, là của chúng ta). Tác dụng: Nhấn mạnh chủ quyền lãnh thổ của nhân dân, tạo giọng điệu hùng hồn và thể hiện niềm tự hào, gắn bó sâu sắc với đất nước. ​Câu 5: Trách nhiệm của thế hệ trẻ là phải biết ơn sự hy sinh của cha ông, ra sức học tập, rèn luyện để xây dựng và bảo vệ tổ quốc, giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc để viết tiếp những trang sử hào hùng.

4 tháng 5

Câu 1: Thể thơ :Tự do

Câu 2 :Các đại từ tiêu biểu“ Tôi , Ta , Chúng ta ”

Câu 3 : Những hình ảnh tiêu biểu được tác giả khắc họa trong văn bản là

Mùa thu Hà Nội: Phố dài xao xác hơi may, người ra đi đầu không ngoảnh lại... (Vẻ đẹp trầm mặc, buồn nhưng đầy quyết tâm).

Đất nước tự do: Trời xanh, núi rừng, những cánh đồng thơm mát, những ngả đường bát ngát... (Hình ảnh tươi sáng, tràn đầy sức sống).

Đất nước trong chiến tranh: Cánh đồng thơm mùi sim, bát cơm chan đầy máu, xiềng xích, khói lửa... (Sự đau thương và tinh thần quật khởi).

Nhận xét ý nghĩa: Những hình ảnh này giúp khắc họa một Đất Nước vừa thơ mộng, gần gũi vừa anh dũng, kiên cường. Nó thể hiện sự thay đổi trong nhận thức và tình cảm của tác giả: từ nỗi buồn riêng đến niềm tự hào chung của dân tộc.

Câu 4: Bạn có thể chọn biện pháp Liệt kê kết hợp với Điệp cấu trúc

Tác dụng: Tạo nên nhịp điệu nhanh, dồn dập như tiếng reo vui náo nức. Nó nhấn mạnh niềm tự hào khôn xiết và khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ đất nước của nhân dân ta sau những năm dài nô lệ.

Câu 5Câu thơ "Những buổi ngày xưa vọng nói về" nhắc nhở chúng ta về quá khứ hào hùng và sự hy sinh vô bờ bến của cha ông. Từ đó, thế hệ trẻ hôm nay cần:

Biết ơn và trân trọng: Luôn ghi nhớ công lao của các thế hệ đi trước để có được nền hòa bình hôm nay.

Học tập và rèn luyện: Trang bị kiến thức và kỹ năng để xây dựng đất nước giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc

Bảo vệ chủ quyền: Có ý thức bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Sống có lý tưởng: Không ngại khó khăn, sẵn sàng cống hiến sức trẻ cho cộng đồng và xã hội.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:NHỚ HUẾ QUÊ TÔISông núi vươn dài tiếp núi sôngCò bay thẳng cánh nối đồng khôngCó người bảo Huế xa, xa lắmNhưng Huế quê tôi ở giữa lòngMười một năm trời mang Huế theoĐèo cao nắng tắt bóng cheo leoGiọng hò mái đẩy vờn mây núiMan mát sông Hương lướt đỉnh đèoTôi gặp bao người xứ Huế xaĐèn khuya thức mãi chí xông phaMở đường giải...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

NHỚ HUẾ QUÊ TÔI

Sông núi vươn dài tiếp núi sông
Cò bay thẳng cánh nối đồng không
Có người bảo Huế xa, xa lắm
Nhưng Huế quê tôi ở giữa lòng

Mười một năm trời mang Huế theo
Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo
Giọng hò mái đẩy vờn mây núi
Man mát sông Hương lướt đỉnh đèo

Tôi gặp bao người xứ Huế xa
Đèn khuya thức mãi chí xông pha
Mở đường giải phóng về quê mẹ
Dựng khắp non sông bóng xóm nhà

Có bao người Huế không về nữa
Gửi đá ven rừng chép chiến công
Có mồ liệt sĩ nâng lòng đất
Buồm phá Tam Giang gió thổi lồng

Nặng trĩu trăm năm bóng cổ thành
Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh
Cờ sao ngày ấy buồn cung cấm
Sông nước xôn xao núi chuyển mình

Bao độ thu về, thu lại qua
Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa
Mỗi lần phượng nở rung màu đỏ
Càng giục canh sương rộn tiếng gà.

Hà Nội, thu, năm 1936
(Thanh Tịnh, Thơ ca, NXB Quân đội nhân dân, 1980)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất.

Câu 3. Phân tích sắc thái nghĩa của từ “nhuộm” trong dòng thơ “Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh”.

Câu 4. Trình bày cảm hứng chủ đạo của bài thơ? Căn cứ vào đâu em xác định như vậy?

Câu 5. Phân tích mạch cảm xúc của bài thơ trên.

Câu 6. Từ câu thơ “Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công”, em hãy viết một đoạn văn (7 – 10 dòng) nêu suy nghĩ của mình về sự hi sinh cao cả của những con người đã ngã xuống cho độc lập, tự do; đồng thời liên hệ trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống ấy.

1
26 tháng 9 2025

Trả lời các yêu cầu Đọc hiểu Câu 1. Thể thơ Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” được viết theo thể thơ thất ngôn (bảy chữ) với các khổ thơ bốn câu, có cách gieo vần chủ yếu là vần chân. Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương trong khổ thơ thứ nhất Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất là: +Sông núi vươn dài +Núi sông +Cò bay thẳng cánh +Đồng không +Huế +Huế quê tôi ở giữa lòng Câu 3. Phân tích sắc thái nghĩa của từ “nhuộm” Trong dòng thơ “Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh”: -Nghĩa đen: "Nhuộm" là làm cho vật khác thấm màu, đổi màu. -Sắc thái nghĩa trong câu thơ: Từ "nhuộm" được dùng với nghĩa chuyển, gợi lên sự mất mát, đau thương, sự đổ máu, hy sinh to lớn và dữ dội. Màu "máu đỏ" không chỉ đơn thuần là màu sắc mà còn là sự sống, là sinh mệnh đã ngã xuống, hòa quyện, thấm đẫm vào màu "đồng xanh" (màu của quê hương, của sự sống, của hòa bình). Từ đó, nó khắc họa sâu sắc cái giá phải trả bằng máu xương của bao thế hệ người dân Huế, những người đã chiến đấu vì độc lập, tự do của quê hương. Câu 4. Cảm hứng chủ đạo và căn cứ xác định -Cảm hứng chủ đạo: Tình yêu quê hương tha thiết và niềm tự hào sâu sắc về truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường của con người và mảnh đất Huế. -Căn cứ xác định: +Tình cảm cá nhân: Nhan đề "Nhớ Huế quê tôi" và hình ảnh "Huế quê tôi ở giữa lòng" (khổ 1), "mang Huế theo" (khổ 2) thể hiện sự gắn bó, khắc khoải. Niềm tự hào về truyền thống cách mạng: Bài thơ ngợi ca những người con Huế "thức mãi chí xông pha", "Mở đường giải phóng về quê mẹ", sự hy sinh cao cả ("máu đỏ nhuộm đồng xanh", "Gửi đá ven rừng chép chiến công"). Câu 5. Phân tích mạch cảm xúc Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo một trình tự hồi tưởng và tự hào về quê hương Huế, gắn liền với những kỉ niệm và truyền thống cách mạng: -Khổ 1 (Khẳng định tình cảm): Mở đầu bằng lời khẳng định tình cảm mãnh liệt, sâu đậm: Huế không xa xôi mà nằm "ở giữa lòng" tác giả, là sự hòa quyện của sông núi và đồng không. -Khổ 2 (Hồi tưởng): Cảm xúc chuyển sang hồi tưởng những kỉ niệm gắn bó, gần gũi như sông Hương, giọng hò mái đẩy, mang theo Huế vượt qua mọi không gian cách trở (Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo). -Khổ 3 & 4 (Tự hào về người Huế và sự hy sinh): Mạch cảm xúc vỡ òa thành niềm tự hào khi nghĩ về những người con xứ Huế kiên cường, bất khuất, có "chí xông pha", dấn thân "Mở đường giải phóng". Đặc biệt, xúc động và trân trọng những hy sinh cao cả ("Có bao người Huế không về nữa", "máu đỏ nhuộm đồng xanh") cho độc lập, tự do. -Khổ 5 (Nhắc lại lịch sử đau thương): Cảm xúc lắng đọng, trầm buồn khi nhắc đến những năm tháng đau thương, máu lửa của lịch sử Huế ("bóng cổ thành", "máu đỏ nhuộm đồng xanh"), nhưng vẫn ánh lên niềm hy vọng, khí thế chuyển mình của đất nước (Sông nước xôn xao núi chuyển mình). -Khổ 6 (Khắc khoải và chờ mong): Kết thúc bằng cảm xúc khắc khoải, nhớ thương quê mẹ ("Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa") xen lẫn sự chờ mong, thôi thúc về một ngày trở về, hoàn thành sứ mệnh (hình ảnh phượng nở và tiếng gà giục giã). Mạch cảm xúc hồi tưởng - tự hào - trầm hùng - khắc khoải tạo nên bức chân dung thơ mộng nhưng cũng đầy bi tráng về mảnh đất và con người Huế. Câu 6. Đoạn văn suy nghĩ về sự hy sinh và trách nhiệm của thế hệ trẻ Câu thơ “Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công” gợi lên trong tôi sự xúc động và lòng biết ơn vô hạn đối với những thế hệ đã hy sinh vì Tổ quốc. Hình ảnh "Gửi đá ven rừng chép chiến công" là một biểu tượng bi tráng về sự hóa thân bất tử: các anh hùng đã ngã xuống, biến mình thành một phần của đất nước, dùng sự hy sinh của mình như những dòng chữ khắc vào lịch sử, lưu giữ mãi chiến công vĩ đại. Sự hy sinh ấy là cao cả vì nó đánh đổi cả tuổi xuân, sinh mạng để đổi lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Thế hệ trẻ hôm nay, khi được sống trong hòa bình, càng nhận rõ trách nhiệm của mình. Đó là ghi nhớ công ơn, trân trọng giá trị của tự do và phát huy truyền thống kiên cường. Chúng ta phải nỗ lực học tập, lao động, giữ gìn đạo đức, và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Đó chính là cách tốt nhất để tiếp nối, chép tiếp những trang sử vàng mà cha ông đã đổ máu xương để viết nên. Deep Research

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:       CẢNH NGÀY HÈ (Bảo kính cảnh giới – Bài 43)Rồi(1) hóng mát thuở ngày trường,Hoè lục đùn đùn tán rợp giương(2).Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ(3),Hồng liên trì đã tiễn mùi hương(4).Lao xao chợ cá làng ngư phủ(5),Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương(6).Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng(7),Dân giàu đủ khắp đòi(8) phương.(Theo Hợp tuyển...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

       CẢNH NGÀY HÈ

 (Bảo kính cảnh giới – Bài 43)

Rồi(1) hóng mát thuở ngày trường,

Hoè lục đùn đùn tán rợp giương(2).

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ(3),

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương(4).

Lao xao chợ cá làng ngư phủ(5),

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương(6).

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng(7),

Dân giàu đủ khắp đòi(8) phương.

(Theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II – Văn học thế kỉ X – thế kỉ XVII, Sđd)

Chú thích:

(1) Rồi: ở đây là rỗi rãi.

(2) Lục: màu xanh; hoè lục: màu xanh cây hoè; tán rợp giương: tán giương lên che rợp.

(3) Thức (từ cổ): màu vẻ, dáng vẻ. Ý cả câu thơ: cây thạch lựu ở hiên nhà đang phun màu đỏ.

(4) Tiễn mùi hương: ngát mùi hương (tiễn: từ Hán Việt, có nghĩa là dư ra). Ý cả câu thơ: sen hồng trong ao đã ngát mùi hương.

(5) Làng ngư phủ: làng chài lưới.

(6) Dắng dỏi (từ cổ): có nghĩa là inh ỏi. Cầm ve: tiếng ve kêu như tiếng đàn. Lầu tịch dương: lầu (nhà cao) lúc mặt trời sắp lặn.

(7) Dẽ có: lẽ ra nên có. Ngu cầm: thần thoại Trung Quốc kể rằng hai triều vua Đường Nghiêu và Ngu Thuấn là hai triều đại lí tưởng, xã hội thanh bình, nhân dân hạnh phúc. Riêng vua Ngu Thuấn có khúc hát Nam phong, trong đó có câu: Nam phong chi thì hề khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề (Gió nam thuận thì có thể làm cho dân ta thêm nhiều của). Ngu cầm là đàn của vua Ngu Thuấn. Ý cả câu: Hãy để cho ta có đàn của vua Thuấn để đàn một khúc Nam phong.

(8) Đòi: nhiều.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên nào được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu?

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ được dùng trong câu thơ sau?

Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc gì?

Câu 5. Chủ đề của bài thơ là gì? Căn cứ vào đâu em xác định như vậy?

Câu 6. Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè, em rút ra được bài học gì cho bản thân trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình? Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) trả lời cho câu hỏi trên.

8
21 tháng 10 2025

Thể thơ: Thất ngôn xen lục ngôn

21 tháng 10 2025

Những hình ảnh thiên nhiên nhắc đến mùa hè

Câu 9: (1,0 điểm) Nhận xét về tâm trạng của tác giả trong bài thơ. CHỢ ĐỒNGTháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng,Năm nay chợ họp có đông không?Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.Nếm rượu, tường đền được mấy ông?Hàng quán người về nghe xáo xác,Nợ nần năm hết hỏi lung tung.Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.(Nguyễn Khuyến, NXB Giáo dục, Hà Nội,...
Đọc tiếp

Câu 9: (1,0 điểm) Nhận xét về tâm trạng của tác giả trong bài thơ.

CHỢ ĐỒNG

Tháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng,

Năm nay chợ họp có đông không?

Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.

Nếm rượu, tường đền được mấy ông?

Hàng quán người về nghe xáo xác,

Nợ nần năm hết hỏi lung tung.

Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,

Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.

(Nguyễn Khuyến, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1984)

Chú thích:

– Làng Vị Hạ có chợ họp ở trong làng, gọi là chợ Và. Hàng năm cứ đến phiên chợ cuối tháng Chạp (chợ sắm Tết) nhân dân lại dời chợ ra họp ở một cánh ruộng mạ phía sau làng, nên gọi là chợ Đồng. Từ năm 1949, quân Pháp về đóng đồn ở làng Vị Hạ thì chợ Và cũng thôi không họp nữa, và tục họp chợ Đồng vào cuối năm cũng mất.

Nếm rượu, tường đền là một nét đẹp cổ truyền diễn ra trong ba phiên chợ Đồng cuối năm. Các bô lão làng Vị Hạ vẫn ngồi tựa lưng vào tường đền “nếm rượu”, xem thứ rượu nào ngon thì mua để tế lễ Thánh trong dịp Tết và đầu xuân.

4
28 tháng 9 2025

Tâm trạng của tác giả trong bài thơ vừa có nét trầm tư, vừa pha chút lo toan và hồi hộp đón chờ mùa xuân. Qua cảnh chợ Đồng cuối năm với mưa bụi, cái rét còn se lạnh, tác giả cảm nhận được không khí tất bật, ồn ào của người dân chuẩn bị Tết, nhưng đồng thời cũng lo lắng cho những nợ nần, khó khăn của cuộc sống. Tuy vậy, trong lòng vẫn ẩn chứa niềm hy vọng và mong đợi khi nghe tiếng pháo báo hiệu mùa xuân sắp đến. Tâm trạng ấy thể hiện sự hòa quyện giữa thực tại khó khăn và khát khao đổi mới, ấm no trong năm mới.

21 tháng 12 2025

Tâm trạng của tác giả trong bài thơ

- Nỗi buồn bơ vơ cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn người người đói khổ

- Nhà thơ cũng khao khát cuộc sống có thể tốt đẹp hơn để nhân dân thoát khỏi cảnh nghèo đói hiện tại

Câu 9: (1,0 điểm) Nhận xét về ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.Đọc văn bản sau và trả lời những câu hỏi bên dưới:LŨ LỤT LÀ GÌ? – NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC HẠI […] Lũ lụt là gì? Có rất nhiều người đang hiểu sai về khái niệm lũ lụt. Thực chất đây là một danh từ ghép, được tạo thành bởi hai từ đơn chỉ hai hiện tượng thiên nhiên vô cùng phổ biến là lũ và lụt. Vì...
Đọc tiếp

Câu 9: (1,0 điểm) Nhận xét về ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.

Đọc văn bản sau và trả lời những câu hỏi bên dưới:

LŨ LỤT LÀ GÌ? – NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC HẠI

[…]

Lũ lụt là gì?

Có rất nhiều người đang hiểu sai về khái niệm lũ lụt. Thực chất đây là một danh từ ghép, được tạo thành bởi hai từ đơn chỉ hai hiện tượng thiên nhiên vô cùng phổ biến là lũ và lụt. Vì thế, để hiểu rõ hơn thì hãy cùng tìm hiểu từng khái niệm một:

– Lũ là hiện tượng ngập lụt, nước chảy xiết có khả năng cuốn trôi nhà cửa, cây cối. Thông thường lũ có tốc độ chảy cao, mang tính bất ngờ và xuất hiện chủ yếu ở các vùng núi cao với địa hình đồi dốc.

[…]

– Lụt là hiện tượng nước ngập trong một vùng đất với một khoảng thời gian nhất định. Lụt có thể do lượng nước lũ quá nhiều khiến vỡ đê hay lượng nước lớn, không có chỗ thoát gây nên tình trạng ngập lụt.

Như vậy, lũ lụt được hiểu một cách đơn giản là hiện tượng mực nước trên sông, hồ quá lớn, quá mức quy định dẫn đến tình trạng ngập úng, nước tràn hoặc gây vỡ đê, trực tiếp tràn vào khu dân cư.

Nguyên nhân gây ra lũ lụt

Lũ lụt xuất hiện bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, gây nên những thiệt hại cho người dân cả về sức khoẻ lẫn tài sản. Dưới đây là những nguyên nhân chính gây lũ lụt mà bạn nên biết:

Do bão hoặc triều cường

Bão và triều cường xảy ra tạo nên lượng nước lũ lớn, kèm theo đó là hiện tượng sạt lở đất khiến cho đất dâng lên làm tràn ngập nước vùng ven biển. Đó là lí do tại sao ở vùng biển, người ta phải trồng rừng ở phía ngoài đê để hạn chế triều cường, hạn chế tình trạng thiệt hại do lũ lụt gây nên.

Do hiện tượng mưa lớn kéo dài

Mưa lớn kéo dài ở các vùng đồng bằng (như ở các vùng đồng bằng thuộc miền Trung nước ta) khiến cho nước trên các con sông không kịp thoát, gây ra ngập úng. Ngoài ra, mưa lớn kéo dài còn hình thành nên các cơn lũ quét, lũ ống gây ra những thiệt hại nặng nề về người và của.

[…]

Do sự tác động của con người

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan kể trên thì sự tác động của con người cũng là vấn đề gây nên tình trạng lũ lụt hiện nay. Việc chặt phá rừng, khai thác tài nguyên một cách bừa bãi khiến đồi núi bị xói mòn, dễ gây nên tình trạng ngập lụt hay sạt lở đất mỗi khi mùa mưa bão đến.

[…]

Tác hại của lũ lụt

Lũ lụt tác động trực tiếp đến con người, đến hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người dân, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng:

Gây thiệt hại về vật chất

Mỗi cơn lũ đi qua đều càn quét phá huỷ không biết bao nhiêu nhà dân, nương rẫy, giết hại các loại động vật. Ngoài ra, tình trạng bão lũ kéo dài còn khiến cho việc trồng trọt bị ảnh hưởng, các loại cây lương thực vì bị ngập úng mà chết, nguồn thực phẩm trở nên khan hiếm. Có thể nói lũ lụt gây nhiều thiệt hại trực tiếp về vật chất đối với người dân.

Gây thương vong về con người

Không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà lũ lụt còn gây thiệt hại cả về con người, cướp đi sinh mạng của rất nhiều người. Điển hình là lũ lụt sông Dương Tử ở Trung Quốc năm 1911 đã khiến cho 100.000 người chết, hay lũ lụt đồng bằng sông Hồng năm 1971 khiến cho 594 người chết và hơn 100 000 người bị thương nặng. Như vậy, có thể thấy lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trọng về người.

[…] 

Là nguyên nhân của nhiều loại mầm bệnh

Việc sinh hoạt trong điều kiện thiếu thốn, xung quanh bị bao phủ bởi nước, rác thải, xác động vật,… sẽ là “mầm mống” cho các loại vi rút tấn công và lây lan bởi vì các loại dịch bệnh lan truyền qua đường nước rất nhanh.

Vì thế, trong điều kiện thiếu thốn, bạn vẫn nên bảo vệ sức khỏe của mình, hạn chế tiếp xúc với nguồn nước ô nhiễm.

[…]

(Theo MƠ KIỀU, khbvptr.vn, 2-11-2020)


2
12 tháng 1

Lũ lụt là một thiên tai rất đáng gờm nó có thể làm nhà cửa ngập nước, có thể đe dọa tính mạng con người

31 tháng 5

Ngôn ngữ chính xác, khoa học: Văn bản sử dụng các thuật ngữ chuyên môn về địa lý và môi trường một cách chuẩn xác để định nghĩa các khái niệm như "lũ", "lụt", "bão", "triều cường".

Diễn đạt rõ ràng, mạch lạc: Các thông tin được trình bày theo cấu trúc phân loại (định nghĩa, nguyên nhân, tác hại), giúp người đọc dễ dàng theo dõi và nắm bắt nội dung.

Giọng văn khách quan, giàu tính thuyết phục: Tác giả sử dụng các số liệu thực tế (ví dụ: số liệu về lũ lụt sông Dương Tử năm 1911 và đồng bằng sông Hồng năm 1971) để minh chứng cho các lập luận về tác hại của thiên tai.

Gần gũi và có tính giáo dục: Bên cạnh việc cung cấp thông tin, ngôn ngữ văn bản còn mang tính hướng dẫn, khuyên nhủ người đọc về trách nhiệm bảo vệ sức khỏe và môi trường.

28 tháng 9 2025

Sách nào thế ạ ❓️❓️❓️❓️

28 tháng 9 2025

Em đang dùng sách kết nối 😁😁

28 tháng 9 2025

Vào dịp nghỉ hè năm ngoái, em đã có một chuyến đi tham quan di tích lịch sử rất đáng nhớ cùng gia đình. Điểm đến của chúng em là Khu di tích lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa và truyền thống hiếu học của dân tộc.


Khi đến Văn Miếu, em cảm nhận được không khí trang nghiêm và cổ kính qua những cổng tam quan, các mái đình cong vút và những bức bia đá khắc tên các trạng nguyên nổi tiếng. Em được bố mẹ giới thiệu về lịch sử của Văn Miếu – Quốc Tử Giám, nơi từng là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, cũng là nơi ghi dấu sự phát triển của giáo dục nước nhà qua nhiều thế kỷ.


Điều làm em ấn tượng nhất là khu vực bia tiến sĩ với hàng trăm tấm bia được đặt trang trọng trên những con rùa đá, tượng trưng cho trí tuệ và sự bền bỉ. Em còn được tham gia viết thư pháp và nghe hướng dẫn viên kể nhiều câu chuyện thú vị về các danh nhân, những nhà khoa học tài giỏi của nước ta.


Chuyến đi đã giúp em hiểu thêm về truyền thống hiếu học, lòng tự hào dân tộc và ý nghĩa của việc giữ gìn các giá trị văn hóa. Em mong rằng mình sẽ học tập chăm chỉ để không phụ lòng các bậc tiền nhân và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.

Trong chuyến thực tế vừa qua, em đã có cơ hội đến tham quan Văn Miếu-Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của nước ta. chuyến đi này không chỉ mở mang tầm mắt mà còn để lại trong em những ấn tượng vô cùng sâu sắc.

Ngay từ khi bước qua cổng chính, em đã bị ấn tượng bởi không gian cổ kính, tôn nghiêm và tách biệt hẳn với sự ồn ào của phố Thị. giữa khuôn viên là Khuê Văn các với kiến trúc lầu vuông tám mái, bốn cửa tròn tượng trưng cho các vì sao lấp lánh, soi bóng xuống hồ Thiên Quang tỉnh trong vắt. đi sâu vào bên trong, em được tận mắt chiêm ngưỡng 82 bia tiến sĩ bằng đá được đặt trên lưng rùa, nơi khắc ghi danh tính của những bậc Hiền tài xưa. khi nghe cô hướng dẫn viên thuyết minh về lịch sử khoa bảng và tinh thần hiếu học của cha ông, trong lòng em trào dâng một niềm tự hào và xúc động mãnh liệt. em và các bạn cũng đã vào khu điện thờ để thắp hương, bày tỏ lòng thành kính trước thầy giáo Chu Văn An và các vị Tiên thánh.

Chuyến tham quan Văn miếu- Quốc Tử giám là một kỷ niệm vô giá đối với em. trở về sau chuyến đi, em tự hứa với bản thân sẽ luôn cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với truyền thống hiếu học ngàn năm của dân tộc

Câu 9: (1,0 điểm) Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản có ý nghĩa gì?CƠM MÙI KHÓI BẾP Bốn năm từ ngày lấy vợ, Tết này anh mới đưa được cả vợ và con về quê. Từ Sài Gòn về miền Trung không hẳn quá xa, nhưng vì có đứa con nhỏ nên chuyện đi lại khó khăn. Mấy lần trước anh chỉ về một mình, dăm hôm lại trở vào. Lần này cả nhà mới được về quê, cho đứa con ăn Tết quê...
Đọc tiếp

Câu 9: (1,0 điểm) Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản có ý nghĩa gì?

CƠM MÙI KHÓI BẾP

Bốn năm từ ngày lấy vợ, Tết này anh mới đưa được cả vợ và con về quê. Từ Sài Gòn về miền Trung không hẳn quá xa, nhưng vì có đứa con nhỏ nên chuyện đi lại khó khăn. Mấy lần trước anh chỉ về một mình, dăm hôm lại trở vào. Lần này cả nhà mới được về quê, cho đứa con ăn Tết quê nội lần đầu.

[…]

Hôm sau bà lọ mọ dậy từ lúc trời chưa hửng sáng, nhóm lửa rơm, bắc nồi cơm. Thằng cháu nội ba tuổi chạy xuống thấy khói bếp bốc ngùn ngùn, khiếp quá hét toáng lên: “Cháy nhà”.

Anh chị đang ngủ giật mình vùng dậy. Anh bảo nhà đã có bếp gas, mẹ nấu gì thứ rơm đó nữa cho cực. Bà cười: “Tụi bây ăn cơm nồi cơm điện thành phố rồi, về quê mẹ nấu cơm lửa rơm cho thơm mùi đồng mùi rạ. Mà cơm nấu rơm mới có miếng cháy ăn giòn. Mấy hồi anh nhỏ, bữa ăn không có miếng cơm cháy là giãy nãy lên bướng bỉnh chẳng chịu ăn. Nhớ không.”

Trời rạng tưng tửng sáng, thấy khói bay lên len qua mái tranh, anh chợt bùi ngùi. Nhớ ngày xưa còn nhỏ, sáng sớm anh chạy xuống bếp nằm cuộn trong lòng mẹ ngủ nướng thêm một lúc. Thức giấc giở nắp nồi ngửi mùi cơm. Rồi lấy đũa xới hết cơm lên để lột miếng chảy ở đáy rồi ăn trước. Lớn lên vào Sài Gòn lập nghiệp, cưới vợ sinh con ở đấy, xa cái bếp quê dần thành quên. Với lại ở trong đó, đâu có mấy ai ăn sáng ở nhà. Cái bụng cũng “lười” và “yếu” đi, sáng phải bún hoặc cháo mới nuốt nổi. Giờ về thấy cơm, thèm thì thèm thật nhưng ăn chi vô.

Cô con dâu bảo: “Mẹ bày ra nấu bữa sáng làm gì cho cực. Chúng con ra quán ăn miếng là rồi việc”. “Bây nói chi lạ. Ăn uống phải đàng hoàng chớ. Bữa sáng là quan trọng lắm. Không ai thương bằng cơm thương đâu con. Ăn cơm chắc bụng no lâu. Mấy cái thứ bún cháo nước õng ệu, chỉ nhoáng là đói lại liền à.” – Bà vừa san cơm ra chén vừa nói.

Ba chén cơm trắng, đĩa cá đồng kho nghệ. Anh háy mắt qua vợ, ý bảo ăn đi, ăn lấy lòng mẹ một miếng. Chị lại háy mắt qua anh lắc đầu, có mà sức Thánh Gióng mới nuốt trôi. Thằng cu con nhìn chằm chằm chén cơm. Cuối cùng chỉ có anh trệu trạo làm được ba miếng, như là ăn tượng trưng cho mỗi người một miếng. Tranh thủ lúc mẹ đi ra giếng, anh lùa cả ba chén cơm trắng vào lại nồi.

Sáng hôm sau bà lại dậy sớm. Lại nhóm bếp rơm nấu cơm. Xong bữa nồi cơm không vơi được là mấy, vẫn đầy như lòng mẹ. Anh gắng ăn được nửa chén. Chén lòng san đôi cho mẹ cho vợ. Anh dối mẹ chở vợ con đi xem chợ Tết, đi thăm thú làng quê, thực chất là để ghé quán cho vợ con ăn bún ăn cháo.

Anh tự nhủ sáng mai phải thức sớm ngồi nấu bếp với mẹ như xưa. Tự nhủ sáng mai phải ăn chén cơm đầy với mẹ, nhai một miếng cơm cháy giòn thơm. Nhưng lâu ngày giờ về quê gặp lại bạn bè người thân, chỗ này mời chén rượu, chỗ kia mời bữa cơm. Cơm rượu quê hàn huyên câu chuyện ngày dài tới tận khuya. Hôm sau thức dậy đã sáng trọt sáng trời, cổ họng khô khốc không ăn nổi cơm dẻo, huống hồ là miếng cơm cháy.

Chưa hết Tết, mới ngày mùng bốn anh lại phải đưa vợ con vào Sài Gòn. Bà mẹ dậy sớm làm gà, nấu cơm. Vẫn một mình bà cặm cụi với cái bếp. Bà xúc đầy cơm vào chiếc ca mèn. Gà luộc cho vào hộp đựng. “Bây đem lên xe mà ăn. Cơm dọc đường dọc sá không ngon đâu”.

Con cháu lên taxi rồi bà còn dặn theo: “Vào trong nhớ ăn uống đàng hoàng nghe bây. Đừng bỏ bữa sáng. Không ai thương bằng cơm thương”.

Vào tới Sài Gòn ca mèn cơm vẫn còn một nửa. Vợ định đem đi đổ. Anh can, bảo để đấy, phơi khô cất giữ làm kỷ niệm.

*

Qua tháng ba nghe tin mẹ bệnh, anh tức tốc về nhà. Nằm trên giường, gặp con, câu đầu tiên bà hỏi: “Con ăn chi chưa. Mẹ không bắc cơm được. Thôi ra đầu chợ ăn tạm. Bữa nào khỏe mẹ nấu cơm cho ăn. Tội nghiệp”.

Nhưng mẹ không khỏe nữa, yếu dần, được thêm hai bữa thì nhắm mắt.

Đưa mẹ ra đồng xong, về nhà nhìn chén cơm trắng đặt trên bàn thờ, anh thấy nhói lòng. Ân hận. Thế là hết cơ hội được ăn với mẹ một chén cơm sáng thật đầy, để nghe mẹ nói câu “Không ai thương bằng cơm thương”. Tiếc nuối. Thèm miếng cơm cháy mẹ nấu quá. Giòn và thơm, mùi hương đồng mùi nước quê, cả mùi khói bếp. Chỉ có mẹ mới nấu được miếng cơm cháy ngon như thế.

Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói…

(Theo Hoàng Công Danh, Chuyến tàu vé ngắn, NXB Trẻ, trang 49 – 54 2016, TPHCM)

3
28 tháng 9 2025

Câu 9:

Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho tình mẫu tử thiêng liêng, ấm áp và chan chứa yêu thương. Khói bếp không chỉ là khói từ bếp lửa quê hương, mà còn là hình ảnh gợi nhớ về mẹ, về những bữa cơm bình dị, chân thành mà đầy ắp tình thương. Đó là biểu tượng của những ký ức tuổi thơ không thể nào quên, là nơi khởi đầu của yêu thương, chăm sóc và hy sinh lặng thầm. Hình ảnh khói bếp đã đánh thức nỗi ân hận, tiếc nuối của người con, đồng thời cũng nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng những yêu thương giản dị khi còn có thể.

18 tháng 12 2025

-gợi nhớ những kỷ niệm tuổi thơ: khỏi bếp gắn với buổi sáng quây quần bên mẹ với mùi cơm rơm cơm cháy thơm giòn

-biểu tượng của tình mẹ : khỏi bếp là hình ảnh ẩn dụ cho tình thương ấm áp bền bỉ lặng lẽ mà mẹ dành cho con

-biểu hiện day dứt và tình cảm sâu nặng: khói bếp như còn vương mãi trong ký ức gọi sự tri ân và nỗi nhớ khôn nguôi về mẹ

 Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:    “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường.    Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.”1. Nêu phương thức biểu đạt của...
Đọc tiếp

 Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

    Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường.

    Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.”

1. Nêu phương thức biểu đạt của đoạn văn trên?

2. Chỉ ra và phân tích tác dụng của 1 hình ảnh so sánh được sử dụng trong đoạn văn đó.

3. Đọc toàn bộ truyện ngắn, em thấy những kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên nhà văn miêu tả theo trình tự chủ yếu nào?

4. Em hãy viết đoạn văn khoảng 5-6 câu nói về diễn biến cảm xúc của nhân vật “tôi” vào “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi ấu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. 

 
1
8 tháng 9 2021

kjhijppppppppppppppppppjm

28 tháng 2 2022

bn tham khảo ạ :

Hai câu thơ đầu:

                        “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ 

                         Mặt trời chân lí chói qua tim"

Từ ấy là phút giây mà tác giả đón nhận ánh sáng của lí tưởng cộng sản. Đó là phút giây thiêng liêng trong cuộc đời nhà thơ. Câu "Mặt trời chân lí chói qua tim" đó là thứ ánh sáng của sự sống, của lí tưởng đúng đắn, cao đẹp. Nhà thơ đã đón nhận bằng cả trái tim và khối óc, tâm hồn nhà thơ như bừng tỉnh.  Hai động từ bừng, chói đã đặc tả sự thay đổi bất ngờ, mạnh mẽ ấy

Hai câu thơ sau:

                          "Hồn tôi là 1 vườn hoa lá

                           Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Tâm hồn nhà thơ diễn ra cuộc tái sinh màu nhiệm. lí tưởng cộng sản như chiếc đũa thần biến tâm hồn tài lụi lâu nay của nhà thơ bỗng chốc thành vườn hoa lá rực rỡ sắc hương và rộn ràng tiếng chim ⇒ Chuyển cảm giác từ đột ngột, mạnh mẽ sang cảm xúc vui tươi, rộn ràng.